Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009

Sakura

Đọc báo thấy bên Nhật đã đến mùa hoa sakura nở, thậm chí bên Thượng Hải nước Tàu còn có cả một phố trồng toàn anh đào, nở trắng cả một góc trời.
Trưa nay từ nhà lên thư viện tình cờ thấy trong trường mình cũng có mấy cây hoa anh đào, không biết được trồng từ lúc nào, nhưng nở trăng xóa.

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2009

Tathy

Mấy hôm mệt nên lười học, ngựa quen đường cũ chạy vô Thăng Long xa vợ chém gió ăn tục nói phét.

Tathy đúng là ngày càng lắm bọn chim lợn, đầu đất chạy vô tham gia dường như để lấy mác. Mấy đứa con gái thì ăn rồi chỉ post ba cái ảnh linh tinh ngớ ngẩn hoặc nói phét về quần áo, nước hoa. Còn mấy thằng em chả rỗi hơi thì thấy topic nào cũng bâu xâu vào viết vài ba câu nhăng cuội. Đã dốt nát lại còn mất dạy và cãi cùn cãi cố.

Tự nhiên có hứng cãi nhau chuyện không phải của mình, thực ra có thể liên quan đến mình và mọi người. Chẳng nhớ đang nói chuyện gì mà tự nhiên quay sang chém gió về cãi cảnh ruộng đất và vai trò của tri thức trong công cuộc cải biến xã hội.

Mấy thằng cực tả đầu đất em chả kiến thức toàn sách vở kiểu báo nhân dân hay chuyện anh Lê Văn Tám vào nổ ầm ầm bảo kê chế độ. Ngợi ca cải cách ruộng đất mang lại ruộng đất cho dân cày và tạo động lực cho người chiến sĩ nơi mặt trận, rồi nào là nhiều thằng địa chủ cũng đáng bị xử bắn.

Trước sau một quan điểm rằng "cải cách ruộng đất là một trong những nhân tố có tác hại ghê ghớm nhất đến lịch sử VN thế kỉ 20, mà thậm chí là cả đến thế kỉ 2 này, vấn đề không phải là giết chết mấy nghìn hay mấy vạn địa chủ cường hào. Mạng người là quan trọng, nhưng cái đó không tác hại lớn bằng chính cải cách ruộng đất đã góp phần lớn và quyết định đưa một lớp nông dân thất học, dốt nát, "đầu đất", tầm nhìn hạn hẹp và cực đoan lên quản lý xã hội". Lớp thất học này lãnh đạo đất nước rồi tạo điều kiện cho lớp con cái, cháu chắt cũng đầu đất tiếp tục nắm giữ vận mệnh đất nước này.
Có mấy thằng ngu lại còn khẳng định rằng, con cái nông dân thông minh không thua gì địa chủ, trí thức. He he.
Sự thật là xác suất để một thằng sinh ra trong gia đình mấy đời làm culi kéo xe giỏi giang thông minh hơn 1 thằng sinh trong 1 gia đình trí thức có truyền thống học rõ ràng là thấp hơn. Bắt chứng minh thì đek chứng minh được bằng số liệu, he he.

Mạn vận cho dân tộc nào nằm trong tay một lũ đầu đất chứ không phải một tầng lớp tinh hoa elit học hành nghiêm túc và bài bản.

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009

Kháp tự nhĩ đích ôn nhu

邓丽君

Cô sinh ở thôn Điền Dương, huyện Vân Lâm, Đài Loan trong một gia đình đại lục quê gốc ở tỉnh Hà Bắc. Tên gọi Lệ Quân là do người cha đặt, dựa theo tên gọi của nhân vật Mạnh Lệ Quân đời nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1963 cô tham gia cuộc thi hát Hoàng Mai Hí và được giải, năm 1967 ra đĩa nhạc đầu tiên và ngay lập tức được ưa chuộng tại Đài Loan. Nhưng ở đại lục giọng hát của cô bị coi là ủy mị và bị cấm đoán. Sau cải cách những bài hát trữ tình của cô mới được nhân dân đại lục đón nhận và hâm mộ. Đặng Lệ Quân được nhân dân Trung Quốc gọi là Tiểu Đặng, cùng với nhà lãnh đạo cộng hòa nhân dân Trung Hoa đương thời là Đặng Tiểu Bình trở thành những cái tên được biết đến nhiều nhất. Hồi đó có câu "Ban ngày nghe Lão Đặng, ban đêm nghe Tiểu Đặng".


Nhu_su_diu_dang_cua_yoump3 (Objet audio/mpeg) - Dang Le Quan

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2009

My wallet

Cách đây 3 tuần quay trở lại Pháp tiếp tục công việc học hành sau gần 2 tháng về Việt Nam ăn Tết. Học hành chán quá nên về nhà cho thoải mái đầu óc và hưởng tí không khí mùa xuân Việt Nam sau nhiều năm xa nhớ.

Vì là số hiếm trong đám sinh viên về nhà vào dip Tết nên ra đi đương nhiên phải mang hộ khá nhiều quà cho bạn bè bên này, gọi là mang chút hơn ấm quê hương sang cho bè bạn. Thôi cũng không nỡ từ chối. Về phần mình thì mua thêm mấy bộ quần áo và mang thứ không thể thiếu là trà xanh. Bên này khó có thể mua được loại trà xanh đúng như ở nhà, chủ yếu người ta bán loại trà đen của Tàu hoặc Ấn độ. Uống cũng không tệ, nhưng gout khác. Mình uống hơi nhiều nên mỗi lần về là phải mang ít nhất 1.5kg sang để dành.

Hành lý cố gắng thu xếp không quá cân so với quy định. Nhưng không chú ý hành lý xách tay nên bỏ vào đó toàn là sách mang về (để đọc nhưng chưa đọc được quyển nào) nên hơi nặng. Làm thủ tục check in xong xuôi, cùng mấy người lên lầu 3 Nội Bài ăn cơm và nói chuyện vì vẫn còn thừa khá thời gian. Lúc kéo valise vào để lên máy bay thì lù lù đâu ấy ông hải quan để sẵn một cái cân điện tử bắt hành khách phải cân cả hành lí xách tay. Valise kéo tay của mình tận 13 kg. Mà các bố này bảo chỉ được mang không quá 7kg.
Thật là vớ vẩn quá, vì thường xách tay thì không quá khổ là được, cùng lắm là trong vé quy định không quá 12kg như bọn Airfrance hay BA (Nhưng bọn nó cũng không thừa hơn cân bao giờ). Tiêu chuẩn 12kg là hợp lí, đây các bác Nội Bài lại chỉ cho 7kg mà lại không ghi trước vào vé, làm dân tình bỏ những thứ quan trọng vào đồ xách tay hết cả. Nên hầu như ai cũng dở khóc dở mếu. Mình đành phải nhờ ông chú có quen với người ở Sân Bay xin xỏ. Gọi điện đủ các kiểu cho ông này ông nọ rồi năn nỉ em học xa, toàn mang sách thôi, bỏ lại lấy gì em học nhưng các chú vẫn kiên quyết bắt bỏ ra. Đúng là làm việc chí công vô tử theo tinh thần nhà nước pháp quyền. Hihi
Cuối cùng thì đành vác hành lí thừa ra gửi thêm một cục theo máy bay, được cái mấy em làm ở quầy check in rất dễ tính, thậm chí không lấy cả lệ phí, chắc thương sinh viên nghèo học dốt đây.

Cuối cùng thì mọi thứ cũng xong, nhưng mất khá thời gian thành thử vào máy bay vội vàng lại ghé quầy thuốc lá mua cho ông bạn 1 cây thuốc.Cũng vì vội mà mới có chuyện để kể đây.
Mua thuốc xong ung dung lên máy bay ngồi, lôi nhạc ra nghe đợi máy bay cất cánh thì chợt có đồng chí an ninh sân bay chạy vào tận ghế hỏi "ai là anh N.Q", xong đưa cho mình cái ví. Híc, thậm chí chỉ kịp nói cảm ơn anh kia là anh ấy xuống luôn, sau đó 2' thì máy bay cất cánh.

Mình để rơi ví hoặc quên ở quầy mua thuốc, cũng không nhớ, vì đến lúc anh an ninh kia mang vào mới biết. May thật, nếu mà mất ví thì sang lại Pháp hết khổ luôn vì ngoài thẻ ngân hàng ra còn hơn chục loại thẻ khác từ thẻ thư viện, thẻ nhà ăn đến thẻ bảo hiểm y tế... Cái nào cũng quan trọng, làm lại được cũng mất rất nhều thời gian.

Thật may là vẫn còn những người tốt mang trả, trong ví mình ngoài một số lượng nhỏ tiền VND còn có một số tiền khác nhé. Hơn hết cái ví này đã theo mình suốt gần 10 năm qua với biết bao kỉ niệm.

Cái ví da rất bền có nhãn Johnnie walker vì hồi năm 1 ĐH papa mua chai rượu Johnnie mở ra có cái ví khuyến mãi, cho mình dùng luôn, sinh viên tích cực xài đồ tặng cho. Hihi, nhưng công nhận là rất bền, 10 năm (tháng 9 năm 2009 sẽ đúng 10 năm thành sinh viên) nhưng không hề bị đứt chỉ hay rách, chỉ hơn sờn 1 tẹo ở chỗ gấp.

Tính cả hôm ở sân bay nữa thì đúng 3 lần rơi (mất ) cái ví này:

Lần thứ nhất là năm cuối Đh, đi xem bóng đá ở quán gần nhà trận chung kết cúp C1, rơi chính ở đó nhưng thằng chủ quán mất dạy nói là có thằng nhặt được ngoài đường và bắt mình bỏ tiền ra chuộc mấy trăm nghìn đồng thời số tiền có trong ví bị mất sạch. Thằng chủ nhà này rất khốn nạn sau khi lấy xong ví (vì có nhiều giấy tờ quan trọng như CMND và bằng lái xe), mình đã chửi thằng vào mặt nó dù mình vốn là thằng rất ít khi có đủ dũng cảm để nói những lời nghiêm nghị với nguoi hơn tuổi. Mình cáu lên bảo "anh thật tử tế, dám bịa chuyện để gạt và lấy tiền em, em không bực vì chuyện tiền mà bực vì anh và em biết nhau cả năm trời mà anh còn làm thế. Em tin vào nhân quả lắm, rồi đời con cái anh nó cũng chẳng khá hơn anh được đâu". Nghe đâu giờ chú này vẫn thế, thằng con trai càng lớn càng bố láo.

Lần thứ hai là bị móc ví ở trên tram ở Bordeaux. Mất ví làm mình phải báo với ngân hàng ngay để nó đóng tài khoản và mãi mới có card mới, 2 tuần không có tiền xài. Hết khổ! Sau đó ông già bạn người Pháp nói là ở đây có 1 trung tâm quản lí đồ rơi và thất lạc ( service des objets trouvés, thành phố nào cũng có, do cảnh sát quản lí) mày lên tìm xem. Mình lên nhưng không thấy, và để lại tên tuổi kèm số đt, 2 tuần sau thì người ta gọi lên lấy lại ví. Đúng ví của mình và mọi giấy tờ vẫn nguyên, đương nhiên tiền thì mất hết. Nói thêm là người ta làm việc này hoàn toàn miễn phí.

Lần thứ 3 thì như đã kể ở trên. Cũng thật khó tin vì người ta mang vào tận máy bay trả ngay trước lúc máy bay cất cánh.

Xã hội Việt Nam có nhiều điều nhức nhối và vô lí, nhưng đó đây vẫn có những điều tử tế, đáng để hi vọng dù nhỏ nhoi.

Cũng có thể khi mở ví mình ra xem người ta nhìn thấy bức ảnh đen trắng chụp một người con gái rất dịu dàng, dễ thương, với đôi mắt buồn nhìn xa xa vô cùng thánh thiện thuần khiết khơi dậy được lòng tốt và tử tế ở người đối diện chăng?

Người con gái đã ở một nơi rất xa ấy, người khi nghĩ về đều mang đến cho ta 2 thứ cảm xúc song hành: Niềm thương cảm chua xót lẫn sự ấm áp dịu dàng thẳm sâu nơi trái tim vốn ngày càng ít ỏi...


Cũng có thể người ta mang ví trả lại cho mình chỉ đơn giản là một việc người ta vẫn làm thôi.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2009

"Ensemble des aspects intellectuels, moraux, matériels des systèmes de valeur, des styles de vie qui caractérisent une civilsation".
Văn hóa là tập hợp những phương diện trí tuệ, đạo đức và vật chất của những hệ thống giá trị và lối sống tạo nên đặc trưng của một nền văn minh

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2009

Chán

Thời gian trôi nhanh quá.
Một tuần trôi qua cái vèo. Và thế là gần 3 tuần quay trở lại Pháp sau gần 2 tháng chơi bời ở nhà.
Tuần vừa rồi đã gặp giáo sư để bàn chuyện luận văn. Mọi việc có vẻ ổn, nếu theo đúng lịch trình thì hè 2010 là mọi thứ xong xuôi, xem như kết thúc sự nghiệp học hành. Nhiều người nghĩ như thế là học xong lúc còn khá trẻ, nhưng trẻ gì nữa, 28 rồi.

Học ĐH từ lúc 17 tuổi, học xong thì mất 1 năm vật vờ học Master ở nhà đợi học bổng sang đây, sang rồi thì lại đổi ngành học khác, mất thêm 1 năm nữa. Thesis thì cứ ấm ớ không chịu viết nên mãi chẳng xong.

Nói chung là cứ lập ra plan gì là y như rằng không thực hiện được. Đúng là kiểu người của những sự tình cờ.
Bắt đầu viết những trang đầu tiên của luận văn mới biết và sửng sốt là hơn 2 năm qua không làm được gì cả, ăn rồi mơ màng linh tinh với những chuyện vớ vẩn chẳng đâu vào đâu. Mà hình như thằng nào làm PH.D cũng mất khá nhiều thời gian vô bổ kiểu này thì phải. Tính mình ham chơi nên lại càng mất nhiều hơn.

3 tháng nữa phải hoàn thành 100 trang đầu tiên để nộp cho giáo sư. Nghĩ thì đơn giản lắm nhưng có lẽ 3 tháng này là quảng thời gian khủng khiếp nhất của đời học sinh 20 năm của mình. OMG!

Hôm trước nói với giáo sư là "tao đã ở cuối đường hầm rồi, chỉ còn mỗi nước tiến lên thôi". Tiên sư lão già còn động viên với khen vớ vẩn "Tao nghĩ mày rất có năng lực, vấn đề là đôi khi bị cản trở bởi nhũng vấn đề cá nhân". Gặp ông giáo dễ tính thì có vẻ sướng nhưng điều này lại làm hại thằng luời như mình. Suốt năm suốt tháng toàn bịa ra lý do để chơi bời với làm những việc vớ va vớ vẩn. Chẳng có thằng khùng nào 2 năm làm Ph.D mà về nhà chơi 3 lần cả.

Cuối tuần lên in ít tài liệu thì máy in ở labo bị khùng không chạy được từ máy tính mình. Trong khi từ máy của mấy phòng bên cạnh thì vẫn chạy tốt. Gọi điện và viết mail cho bọn IT của trường thì bọn nó bảo sẽ sửa nhanh nhất có thể. Thật là tốn thời gian, đành in bằng máy in của riêng, máy in màu nên tiền mực đắt hơn tiền máy.

Thôi, tạm viết đây ít dòng tự động viên bản thân. Một tuần mới làm việc chăm lên đi không thì chết chìm mất.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2009

BIBLIOGRAPHIE

Bibliographie

Ouvrages, études et thèses

  1. ABOU (S.), L’identité culturelle, Hachette, 1995.
  2. A.L DROZ (G.), « La protection internationale des biens culturels et des objets d’art, vue sous l’angle d’une convention de droit international privé ». La vente internationale d’œuvres d’art, Institute of International Business Law and Practice, International Chamber of Commerce, Faculté de Droit de Genève, colloque de Genève 11-13 avril 1985, Genève 1987, p. 535 et s.
  3. ASSOCIATION HENRI CAPITANT, La protection des biens culturels (journées polonaises), Tome XL, 1989, Economica Paris, 1991.
  4. ANNE-MARIE (A.), Politique culturelle et mondialisation.
  5. ARJUN (A.), Après le colonialisme, lé conséquences culturelles de la globalisation.
  6. ALAIN (D.), KAREN (B.), Une autre mondialisation en mouvement.
  7. BABELON (J.P.), CHASTEL (A.), La notion de patrimoine, Paris, Lianna, 2004.
  8. BADY (J.P.), Les monuments historiques en France, PUF, 1988, 2° éd.
  9. BELL (J.), « Comparing Public law » in HARDING (A.) örücü (E.) ed., Comparative Law in the 21 st Century, Kluwer Law International, 2002.
  10. BOUCETTA (A.), Le statut du patrimoine culturel en droit international, contribution à l’étude de la notion de patrimoine culturel de l’Humanité, Thèse pour le doctorat en droit nouveau régime, Aix- Marseille III, 1989.
  11. BRICHET (R.), Le régime des monuments historiques en France, Librairies Techniques, 1952.
  12. BRUNSVICK (Y.), BADY (J-P.), CLERGERIE (B.), Lexique de la vie culturelle, Dalloz, 1987.
  13. CHOAY (F.), L’allégorie du patrimoine, Paris, Seuil, 1999
  14. CHARLES- ALBERT (M.), Mondialisation, la grande rupture, éditions la Découverte, Paris, 2007.
  15. COLOMBET (C.), Propriété littéraire et artistique, Précis Dalloz, 5e éd., Paris, 1990.
  16. COMMISSION DES COMMUNAUTES EUROPENNE, Communication de la Commission au Conseil relative à la protection des trésors nationaux ayant une valeur artistique, historique ou archéologique dans la perspective de la suppression des frontières intérieures en 1992, réf Com (89) 594 final, 22 novembre 1992.
  17. COMMISSION DES COMMUNAUTES EUROPEENNE, Rapport sur la libre circulation des œuvres d’art dans la Communauté, réf III B 1610. 87.
  18. CONSEIL DE l’EUROPE, La protection juridique internationale des biens culturels, Actes du XIII colloque de droit européen, Delphes 20-22 septembre 1983, Strasbourg, 1984.
  19. DUQUESNE (J.), Le régime des échanges culturels dans l’Europe des neuf, Etude effectuée pour la Commission des Communautés européennes, 1975, références XII/685/75-F.
  20. DUQUESNE (J.), Le régime des échanges culturels dans l’Europe des douze, Etude faite à la demande de la Commission des Communautés européennes, Etude et propositions, novembre 1988, référence X/Culture/15/1988.
  21. DURUPTY (M.), L’Etat et les Beaux-Arts, Thèse pour le doctorat en droit, Université de Bordeaux, Faculté de droit et de sciences économique, 1964.
  22. EDELMAN (B.), La propriété littéraire et artistique, « Que sais-je » (4è éd.), PUF, Paris, 2008.
  23. Gautier (P.-Y.), Propriété littéraire et artistique, PUF, coll. Droit fondamental, Paris, 5ème édition, 2004.
  24. GLADYS (O.G.), Mondialisation/globalisation.
  25. GROUPE DE RECHERCHE SUR LES MUSEES ET LE PATRIMOINE, Patrimoine et mondialisation, l’Harmattan, 2008
  26. JACQUES (T.), Intégrations régionales et mondialisation, Complémentarité ou contradiction, La Documentation française, Paris, 2003.

  1. KOCH (K.), L’application du traité CEE au secteur culturel, Etude Secteur Culturel, Publications des Communautés Européennes, 1975, réf XII/ culturel/ 451/ 75/F.
  2. LA VENTE INTERNATIONALE D’ŒUVRES D’ART, tome II, Colloque international de Genève, Institut of International Business Law and Pratice, International Chamber of Commerce, Faculté de Droit de Genève, Département de Droit International Privé, ICC Publishing S.A., Paris, New York, Kluwer and taxation publishers, Deveuler, Boston, 1990.
  3. MESNARD (A-H.), L’action culturelle des pouvoirs publics, Préface de A. de LAUBAGERE, LGDK, Paris, 1969.
  4. PELLOUX (R.), La notion de domanialité publique depuis la fin de l’ancien droit, Dalloz, Paris, 1932.
  5. POISSON (G.), Les musées de France, « Que sais-je » N°…, PUF, Paris, 1976.
  6. PONTIER (JM.), RICCI (JC), BOURDON (J), Droit de la culture, Précis Dalloz, Paris, 1997.
  7. POULOT (D.), Patrimoine et Modernité, Paris, l’Harmattan, 1998.
  8. STAVRAKI (E.), La convention pour la protection des biens culturels en cas de conflit armé : une convention du droit international humanitaire, Thèse, Paris I, 1988.

Ouvrages généraux.

  1. BUSSON (A.), EVRARD (Y), Portraits économiques de la culture, Notes et Etudes Documentaires, La Documentation française, Paris, n° 4846, 1987-21.
  2. CARROUE (L.), Géographie de la mondialisation, A. Colin, Paris, 2006.
  3. GHORRA (G.C.), Dictionnaire des mondialisations, A. Colin, Paris, 2006.
  4. DAMISCH (J.), Ruptures cultures, Les éditions de Minuits, Paris, 1976.
  5. EMMANYEL (P.), Pour une politique de la culture, Seuil, 1971.
  6. ORY (P.), L’aventure culturelle française, 1845 -1989, Flammarion, Paris, 1989.
  7. GRATALPOUP (C.), Géohistoire de la mondialisation, A. Colin, Paris, 2007.
  8. JEAN- MICHEL (D.), Politique culturelle : la fin d’un mythe, Gallimard.
  9. MICHEL (H.), Le Vietnam en mutation, Documentation française, 1999.
  10. PHILIPPE (D.), Le Viêt Nam face à l'avenir, L'Harmattan, 2000

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009

un jour de printemps avec la fille qui s'appelle "Bonheur"

Một ngày mùa xuân với người con gái mang tên " Hạnh phúc"

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2009

Jun

Dear Jun,
...
Dans cette vie il existe souvent des questions sans réponse, les questions auxquelles qu'on ne trouve jamais leur réponses jusqu'à la fin de la vie. J'espère qu'on peut les comprendre et sentir si on s'aime un peu.

Moi, jusqu'au dernier moment de cette vie, je n'oublierai jamais ta gentillesse et ta sincérité du coeur. C'est un sentiment chaleureux et persuatif qu'on ne peut reçevoir qu'une fois dans cette vie si courte....

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2008

Cải tạo Ba lê dự án

Du khách đến Paris ai cũng gắng một lần bước lên tầng cao nhất của tòa tháp Eiffel uy nghi sừng sững với độ cao 324 mét để tận mắt chiêm ngưỡng toàn cảnh thủ đô nước Pháp, dù có phải chờ cả tiếng đồng hồ xếp hàng dài mua vé. Trong cái giá lạnh của một ngày mùa đông cuối năm, tôi đã hòa mình vào dòng người nô nức cùng đi thang máy lên tầng 3 của tháp, ngắm nhìn kinh đô ánh sáng huy hoàng vào buổi chiều tàn và rực rỡ lung linh khi màn đêm buông xuống. Khách viếng thăm đủ mọi quốc tịch, màu da và ngôn ngữ nhưng chắc chẳn ai cũng đều thôt lên một từ "tuyệt vời" khi ngắm nhìn toàn cảnh Paris từ trên cao.

Paris hấp dẫn du khách bốn phương bởi những đại lộ dài hun hút, những tượng đài, cung điện và công trình kiến trúc hoành tráng mà vô cùng tinh tế. Tất cả kết hợp với nhau hài hòa như bức tranh của một nghệ sỹ tài hoa. Nhìn toàn cảnh Paris từ trên tháp Eiffel mới thấy được sự kì vĩ và duyên dáng của Paris mà không một thành phố nào trên thế giới này có được. Trước khung cảnh tráng lệ say đắm lòng người ấy, ít ai biết được rằng giữa thế kỉ 19, Paris vẫn chỉ là một thành phố mang hơi hướng Trung cổ, một thành phố đậm nét tương phản với những tượng đài kỷ niệm duyên dáng, những công trình lịch sử nằm kề bên các khu nhà ổ chuột. Đó là kết quả của hàng thế kỷ phát triển tùy tiện. Thành phố rất đông đúc vì có quá nhiều dân nhập cư từ các tỉnh tìm đến sinh sống. Paris ngày ấy vẫn chỉ là một thành phố nhỏ ở Châu Âu, không có gì đáng để so sánh với Maldrid, Lisbon và càng không thể đứng ngang hàng với London của đế quốc Anh hùng mạnh.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một cách công bằng rằng ngay từ thế kỷ 17, người ta đã bước đầu tạo nên những nền móng đầu tiên của Paris ngày nay bằng việc ban hành các quy chuẩn căn bản, chặt chẽ và khắt khe về quy hoạch và xây dựng. Thật là khó tin là ngay từ thời đó, với Chỉ dụ năm 1607 và Sắc lệch 1667, chính quyền thủ đô đã thiết lập nên những quy chuẩn đầu tiên về quy hoạch và quản lý đô thị ở Paris. Trong đó, có những quy tắc vẫn còn được áp dụng tới tận ngày nay như giới hạn về chiều cao của tòa nhà mặt phố hay xử lý những tòa nhà mặt phố nhô ra nhằm tạo ra những dãy phố dài và ngăn nắp.

Có thể thấy rằng công tác quy hoạch hiệu quả chỉ có thể được đảm bảo bằng một hệ thống pháp luật chặt chẽ, công minh về quy hoạch và kiến trúc, dựa trên tinh thần thượng tôn pháp luật.

Dù vậy, bộ mặt của Paris thực sự thay đổi và mang dáng dấp của một kinh đô diễm lệ quyến rũ khách thập phương hôm nay chỉ thực sự có được nhờ dự án cải tạo Paris thời Đệ nhị đế chế. Dự án này, hay còn gọi là các công trình Haussmann, là dự án tái quy hoạch và hiện đại hóa thủ đô Paris của Pháp thời Napoléon đệ tam. Dự án lớn này được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1852 đến năm 1870, dưới sự phụ trách của tỉnh trưởng tỉnh Seine, nam tước Georges Eugène Haussmann.

Xin được nói thêm một chút về Nam tước Georges - Eugene Haussmann, vốn nổi tiếng là nhà quản lý đô thị lỗi lạc của nước Pháp. Các thành phố ông từng làm quản lý như Bordeaux đều được ghi dấu bằng những công trình kiến trúc tuyệt vời có giá trị đến tận ngày nay, điển hình là khu quảng trường Bourses ở trung tâm Bordeaux được Unesco xếp hạng di sản thế giới. Nhờ tài năng và uy tín đó mà ông được Hoàng đế Louis Napoleon, tức Napoleon đệ tam, bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh Seine (trong đó có Paris) vào tháng 6 năm 1853.

Napoleon đệ tam đã giao trọng trách quy hoạch lại Paris cho Haussmann, đồng thời cho phép vị tổng công trình sư này được toàn quyền hành động với các khoản tài trợ rộng rãi đến từ chính phủ và các nhà băng.

Dự án của Haussmann bao trùm lên tất cả các khía cạnh về quy hoạch đô thị của Paris như kiến trúc đô thị, đường phố, không gian xanh, hệ thống dẫn và thoát nước. Dự án này được thực hiện ở cả vùng trung tâm Paris lẫn các khu vực ngoại ô.

Tuy gặp phải một số chỉ trích vào thời gian thực hiện nhưng cùng với thời gian, dự án quy hoạch của Haussmann đã cho thấy hiệu quả lớn khi biến thành phố Paris từ một đô thị cổ, đường phố chật hẹp, trở thành một đô thị hiện đại với các đại lộ lớn và những quảng trường thoáng đãng. Không chỉ làm nên bộ mặt mới của Paris ngày nay, những cải tạo của Haussmann còn là một kho báu cho các kiến trúc sư, các nhà quy hoạch đô thị và sử gia nghiên cứu và học hỏi.

Napoleon đệ tam và Haussmann đã cùng thảo ra một kế hoạch lớn nhằm cải biến Paris theo nguyên tắc: xây dựng những đại lộ có cây xanh và các khối nhà ở, công thự dọc hai bên đường; những đại lộ thẳng tắp này tỏa ra từ trung tâm và những đường phố cũng được tạo ra để nối liền các quận nội đô, từ đó giải quyết vấn đề giao thông trong thành phố.

Haussmann đã thực sự chuyển trung tâm Paris về phía Tây Bắc, từ đó xây những đại lộ rộng lớn, thẳng tắp và kiên quyết xóa bỏ mọi chướng ngại nằm trên những con đường đã được duyệt theo kế hoạch. Ông đã phá hủy hàng nghìn khu nhà lụp xụp và cũ kỹ (trong đó có cả ngôi nhà ông đã sống thời thơ ấu) và điều hàng vạn dân cư ra khỏi trung tâm thành phố để xây các đại lộ, công viên, nhà thờ, nhà hát, quảng trường rộng lớn … Chính nhờ có nhãn quan và tinh thần quyết liệt ấy mà ngày nay, Paris mới ngẩng cao đầu kiêu hãnh về những công trình kỳ diệu như Quảng trường Concorde, Quảng trường Trocadero và Đại lộ Champs Elysée

Một thành tựu to lớn khác của Haussmann là đã xây dựng được hệ thống cống rãnh thoát nước hiện đại nhất lúc bấy giờ, tạo ra bầu không khí trong lành, xóa bỏ được những bãi sình lầy gây dịch tả và những ngõ hẻm chật cứng người của Paris thời đó.

Trong khoảng 15 năm (1853-1868), Haussmann đã gần như hoàn tất các kế hoạch đầy tham vọng của mình: biến Paris từ một đô thành trung cổ, xấu xí và bẩn thỉu thành một thủ đô hiện đại, lộng lẫy, với những đại lộ thẳng tắp chạy xuyên qua thành phố. Dọc theo những đại lộ ấy mọc lên những nhà hát, nhà thờ mới, nhà ở cao tầng cùng rất nhiều công viên tươi đẹp. Hệ thống cấp thoát nước và khí đốt cũng được xây dựng và hiện đại hóa.

Để có được kỳ công về mặt quy hoạch và kiến trúc đó, không thể không nhắc đến vai trò trọng yếu của hệ thống quy chuẩn về kiến trúc đô thị mà những người khởi xướng dự án đặt ra. Tuy bị chỉ trích mạnh mẽ vào thời đó nhưng giá trị và tầm quan trọng của hệ thống quy chuẩn này là điều mà ngày nay ai cũng phải thừa nhận. Chẳng hạn, Sắc lệnh ngày 26 tháng 3 năm 1852 đã đưa ra các công cụ luật pháp giúp xúc tiến dự án cải tạo của Haussmann, với những nội dung căn bản như:

· Quyền trưng dụng "vì mục đích sử dụng công", theo đó chính quyền được phép trưng dụng các toà nhà nằm dọc những con đường được dự kiến xây dựng. Quyền này đã cho phép Haussmann phá sạch một phần đáng kể Île de la Cité để xây dựng lại, đồng thời bắt buộc chủ của những ngôi nhà này phải tu sửa mặt tiền ngôi nhà của họ theo kì hạn 10 năm một lần.

· Quy định về độ cao chuẩn cho các con đường, quy định về thiết kế nhà, về chỗ nối giữa hệ thống đường ống nước thải.

Tiếp đó là quy định về đô thị hóa năm 1859 cho phép mặt tiền các tòa nhà chỉ được cao tối đa 20 m trong những con phố rộng 20 m của Haussmann đang xây dựng (trước đó chiều cao tối đa là 17,55 m). Các mái nhà phải được làm nghiêng một góc 45 độ. Mặt tiền các đơn vị nhà nằm trên cùng một con phố cũng phải tuân thủ theo cùng một kích thước.

Chính tài năng quy hoạch kiến trúc lỗi lạc cùng với tầm nhìn vượt thời đại của những con người như Haussmann đã làm nên một Paris hoành tráng nhưng không kém phần diễm lệ ngày nay. Xa xa nhìn từ tầng 3 của tháp Eiffel là một quảng trường lớn bao quanh Khải hoàn môn, mang tên Quảng trường Ngôi sao, từ đó tỏa ra các đại lộ tráng lệ rộng lớn như những cánh lung linh của một ngôi sao, biến Paris trở thành một trong những kinh thành đẹp và lãng mạn nhất địa cầu. Một trong những đại lộ tuyệt đẹp ấy mang tên Haussmann, người có công lớn trong việc xây dựng nên kinh đô ánh sáng. Lịch sử sẽ còn nhiều biến động, những con đường rồi cũng có thể thay tên, nhưng công lao của Haussmann với Paris thì sẽ còn lưu giữ mãi trong trái tim của hàng triệu triệu người yêu mến thành phố này.

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2008

ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ

ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ

Расул Гамзатов

Исчезли солнечные дни,

И птицы улетели,

И вот одни проводим мы

Неделю за неделей.

Вдвоём с тобой, вдвоём с тобой

Остались ты да я.

Любимая, любимая,

Бесценная моя!

На косы вновь твои смотрю,

Не налюбуюсь за день.

Птиц улетевших белый пух

Пристал к отдельным прядям.

Пусть у меня на волосах

Лежит, не тая, снег...

Но ты, моя бесценная,

Как прежде, лучше всех.

Все краски вешние неся,

Вернутся снова птицы,

Но цвет волос, но цвет волос

С весной не возвратится.

И солнцу улыбнёмся мы,

Печали не тая.

Любимая, любимая,

Бесценная моя!

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2008

Noel trên tàu

C'est la fin de l'hiver, le début du printemps...
Chiều 24.12 gare Lyon Part Dieu chật kín người hối hả cho kịp những chuyến tàu cuối cùng mong về nhà sớm gặp mặt gia đình truớc lúc ngày mới bắt đầu.
Khác hẳn những chuyến đi thường ngày, hành khách chiều nay ai cũng nặng trĩu những valise và túi xách, không khí nhà ga lúc này khiến người ta nhớ đến cảnh sân ga những ngày cuối năm ở Việt Nam, cái thời của chàng sinh viên trẻ tuổi mang trong mình lắm tin yêu và ước mơ.
Cũng không khí lạnh buốt của những ngày cuối năm, của thời khác mùa đông chưa qua hẳn mà xuân thì cũng như mới e ấp nơi đầu ngõ, cũng là những sân ga chật ních nguời với những nụ cuồi rạng rỡ trên khuôn mặt vì sắp được đoàn tụ gia đình và người thân. Tất nhiên là không thể có những cành đào cành mai trên những chuyến tàu tốc hành vào ngày này thay vào đó là hình ảnh những cái ôm hôn siết chặt chào tạm biệt của ngừoi ra đi và người ở lại.
Chợt nhớ mùi hương trầm ngày tết một cách da diết, cái mùi hương ấm áp mà từ 4 năm nay chỉ còn lưu giữ nơi tâm tưởng- mùi của ngày Tết, của mùa xuân và niêm vui đoàn tụ trong tình gia đình và bè bạn.
Bước vào quán cafe nhỏ trong nhà gare Lyon làm 1 cốc cafe cho tỉnh táo để ngắm nhìn đoàn người ngược xuôi và chờ tàu về Montpellier đến nhà người bạn cũ đón thêm một Noel xa nhà.


Bạn thân yêu ơi,
Đêm Noel cũng xa nhà bạn làm gì, có chợt nhớ đến mình chút nào không?
Từ lâu lắm tớ không còn là người mơ mộng với những lãng mạn nơi trái tim nhưng giờ phút này đây ngồi cuộn tròn ấm áp trên một chuyến TGV và viết những dòng này lên cuốn sổ tay cũ kỹ, tớ chợt nhớ đến bạn rất nhiều và mộng mơ ước rằng chúng mình chỉ cách nhau chỉ vài giờ đi tàu, để mình có thể đến bên bạn trong đêm Noel lạnh giá, thứ lạnh lẽo không chỉ bởi đất trời mà nơi thẳm sâu nhất của trái tim.

Tàu sắp tới Nimes, thành phố cách không xa Montpellier,qua cửa sổ con tàu chạy với vận tốc trên 200km/h tớ như chợt nhìn thấy khuôn mặt của bạn, và trên khuôn mặt ấy tới tìm thấy được hình bóng và hơi ấm từ quê hương xa xôi.

Nimes, 17h 30 ngày 24.12.2008

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2008

Hãy giữ những khoảng không quý giá còn lại của HN

Bài dang tren Vietnamnet


Có thể coi dự án xây dựng trung tâm thương mại ở vị trí chợ 19-12 là một minh chứng cho kiểu làm quy hoạch thiếu đồng bộ và tiền hậu bất nhất của những người làm công tác quy hoạch. - Ý kiến của một nhóm kiến trúc sư.
TIN LIÊN QUAN
Ảnh hưởng môi trường của TTTM 19-12 theo góc độ phong thủy
Sau khi địa giới hành chính của thủ đô Hà Nội được mở rộng bao trọn Hà Tây và một số địa phương lân cận, Hà Nội trở thành một trong những thủ đô lớn nhất thế giới với nhiều lời hứa hẹn từ những người có thẩm quyền về một thủ đô xứng tầm khu vực và quốc tế, một thủ đô sẽ được quy hoạch lại bởi các công ty tư vấn quy hoạch uy tín quốc tế và những người làm công tác quản lý quy hoạch có tầm nhìn và lương tâm nghề nghiệp.
Thế nhưng, những động thái gần đây liên quan đến dự án xây dựng trung tâm thương mại trên nền chợ tạm 19 -12 khiến không ít người yêu mến và hi vọng về một Thủ đô Hà Nội vừa hiện đại, vừa bảo vệ được những giá trị đã trường tồn cùng năm tháng phải bức xúc.
Để bảo vệ cho đề án mở rộng địa giới thủ đô Hà Nội, các nhà quản lý đã lập luận rằng mở rộng không gian sẽ giúp cho không gian sống của người dân thủ đô được cải thiện, tạo điều kiện cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng vốn bị giới hạn trong một thủ đô cũ “chật hẹp” được tiến hành nhanh chóng, đồng thời cũng góp phần giảm tải cho khu vực trung tâm của Hà Nội cũ về mật đô dân cư và lưu lượng giao thông, tạo điều kiện bảo tồn và nâng cao các giá trị về kiến trúc của khu vực này.
Tuy nhiên dự án xây dựng trung tâm thương mại (TTTM) ở vị trí chợ 19-12 là một minh chứng cho kiểu làm quy hoạch thiếu đồng bộ và tiền hậu bất nhất của những người làm công tác quy hoạch.
Khu vực chợ 19-12 (Ảnh do nhóm tác giả cung cấp)
Quy hoạch và quản lý độ thị cần tầm nhìn dài
Hà Nội ngày nay với diện tích hơn 3000km2, đất dành cho xây dựng không thiếu. Khu vực trung tâm Hà Nội cũ đã đến lúc cần được bảo tồn triệt để. Hãy nhìn lại những năm qua xem chúng ta đã đối xử với đô thị của chúng ta như thế nào? Hãy nhìn những tòa nhà cao tầng thương mại, khách sạn như: Melia, Vietcombank, Tháp Hà Nội, Trung tâm thương mại (TTTM) Vincom….với khu vực phố xung quanh nơi chúng được xây dựng. Trong một bán kính chưa đến 1 km nếu lấy Hồ Gươm làm tâm, đã có không dưới 5 TTTM cao tầng. Với mật độ TTTM cao tầng như thế, thì một TTTM ở vị trí chợ 19-12 liệu có thực sự cần thiết?
Đương nhiên việc đã từng tồn tại chợ 19-12 khẳng định sự cần thiết phải có của nó, nhưng không có nghĩa là nó phải ở vị trí đấy, và càng không có nghĩa là cứ phá một cái chợ cũ đi, thì ta phải xây dựng TTTM cao tầng, đặc biệt là với một thành phố có mật độ dân cư quá cao ở trung tâm như Hà Nội.
Không cần kể các nước tiên tiến ở đâu cho xa, ngay các nước láng giềng của chúng ta như Trung Quốc, Malaysia… các siêu thị và trung tâm mua sắm lớn đều được quy hoạch ở xa trung tâm thành phố, liền kề các khu vực ngoại ô. Một mặt giảm chi phí xây dựng vì đỡ tốn kém trong khâu giải phóng mặt bằng, một mặt góp phần giảm lưu lương giao thông ở khu trung tâm vào những ngày cuối tuần và nghỉ lễ lúc người dân tập trung đi mua sắm. Nhưng đồng thời, việc xây dựng các trung tâm thương mại ở ngoại ô cũng góp phần nâng cao mức sống và cảnh quan đô thị ở các khu vực đó, cũng như kéo gần sự chênh lệch về mức độ phát triển giữa các khu vực trong cùng một thành phố.

Bản đồ cao độ khu vực xung quanh chợ 19/12 (Ảnh do các tác giả cung cấp)Click vào ảnh để xem bản đồ cỡ lớnCác nước phát triển từ lâu đã có được tầm nhìn dài về quy hoạch và quản lý đô thị như thế, cho nên dù cuối tuần người dân ở các đô thị lớn đều đi mua sắm cho cả tuần, thì lưu lượng giao thông ở các khu vực đông dân cư ở trung tâm không tăng thêm nhiều, vẫn giữ được cho các khu phố cũ sự thanh bình vốn là nét đẹp lâu nay của các đô thị có lịch sử lâu đời.
Đối với loại hình chợ phục vụ nhu yếu phẩm hàng ngày như rau quả, thực phẩm, tại các nước tiên tiến, người ta sử dụng hệ thống siêu thị thực phẩm mini tại các khu dân cư, một khu dân cư có thể có nhiều siêu thị loại nhỏ của nhiều tập đoàn khác nhau, nhưng chúng chỉ chiếm mặt bằng tầng trệt hoặc tầng hầm của các khu dân cư.
Tin bài liên quan
Chợ 19-12: Hà Nội cần đường hơn hay trung tâm thương mại?
Chủ tịch Hà Nội: Thư ông Dương Trung Quốc là gợi ý
Chợ 19-12: Hà Nội cần "hy sinh"một số lợi ích!
Chợ 19-12: Vừa làm đường, vừa xây trung tâm thương mại!?
Về mặt văn hóa và tâm linh
Sau khi giải tỏa chợ 19-12 nên tạo ra tại đây một không gian tưởng niệm những người dân Hà Nội đã ngã xuống trong những ngày đấu kháng chiến chống Pháp. Đó không chỉ là điểm nhấn về không gian xanh cho khu vực vốn có mật độ xây dựng cao (xem bản đồ trên) và còn có ý nghĩa tâm linh với người dân thủ đô, nhắc nhở chúng ta về một thời điểm lịch sử bi tráng hào hùng của dân tộc. Chủ dự án trung tâm thương mại đã đưa ra ý tưởng xây dựng một đài tưởng niệm nhỏ hay một bức phù điêu cho mục đích cao quý trên đây. Ý tưởng này ban đầu xem ra có vẻ hợp lý nhưng kỳ thực càng cho thấy sự bất hợp lý của những người cổ vũ cho dự án. Có lẽ chỉ duy nhất ở Việt Nam chúng ta mới có kiểu quy hoạch kết hợp giữa trung tâm mua bán sầm uất nhộn nhịp và có thể nói là hơi phần xô bồ với nơi tưởng niệm những người đã khuất.
Để tưởng nhớ những người ngã xuống cho ngày đầu kháng chiến không đòi hỏi phải những tượng đài hoành tráng, những bức phù điêu tinh xảo nhưng nhất quyết không nên kết hợp nó với một nơi mua sắm giải trí xô bồ náo nhiệt. Nếu có thể hãy tạo ra một không gian nhỏ nhưng yên tĩnh và thiêng liêng. Kết hợp trung tâm thương mại mua sắm với nơi tưởng niệm là ý tưởng có phần không tôn trọng những người đã ngã xuống vì một Hà Nội hôm nay.
Ngoài ra, cần chú ý đến sự tôn nghiêm của Tòa án Nhân dân tối cao. Tại bất kỳ quốc gia nào tòa án đều được xây dựng tại những nơi tôn nghiêm, yên tĩnh là biểu tượng của quyền lực nhà nước và sức mạnh của công lý. Người Pháp khi xưa xây dựng trụ sở tòa án ở khu vực này (tên cũ là Palais de justyce) vốn đã tạo cho nó một không gian như thế. Sau này, trụ sở tòa án tối cao được bao bọc bằng hai tòa cao ốc 18 và 25 đã là quá đủ, nay có thêm một tòa nhà 17 tầng nữa sẽ tạo ra một bộ mặt xấu xí và lố bịch cho cảnh quan.
Một kiểu siêu thị ở Pháp - Monoprix. (Ảnh do nhóm tác giả cung cấp)
"Nguyện vọng nhân dân" được xem xét trong dự án như thế nào?
Ông Nguyễn Anh Cường – Giám đốc công ty TNHH Thủ Đô II trong bài trả lời VietNamNet có nói : “Suốt trong 4 năm triển khai dự án chúng tôi đã hoàn tất hàng chục thủ tục pháp lý, trình lên Bộ Xây dựng, qua Hội đồng Kiến trúc- Quy hoạch, được thẩm định bởi nhiều viện sở…nhưng chưa một cơ quan nào bảo chúng tôi ngừng tiến hành vì đây là một con đường”.
Tại sao trong suốt 4 năm liền, từ năm 2004, người dân thành phố Hà Nội, kể cả giới truyền thông báo chí, không hề được biết một chút tin tức nào về dự án này? Hơn nữa, vị trí này trước đây đúng là một con đường. Chợ 19-12 được thành lập và hoạt động ở đó như một giải pháp tình thế trong thời kì bao cấp. Và ngày nay nó không còn phù hợp với chức năng hoạt động là chợ tạm nữa, thì việc trả nó về đúng chức năng là một con đường là phù hợp với quy hoạch khu vực này từ xưa vốn được các chuyên gia quy hoạch người Pháp làm rất nghiêm túc và khoa học.
Chỉ có kiểu quy hoạch không có tầm nhìn, thiếu đồng bộ và thiếu sự công khai minh bạch mới tạo điều kiện cho tư lợi, tạo điều kiện cho những dự án chỉ tính đến lợi ích kinh tế trước mắt của một nhóm người mà bỏ qua những lợi ích lâu dài của đa số dân cư đô thị. Ông Chủ tịch Thành phố lập luận rằng: “Dự án xây trung tâm thương mại kia đáp ứng nguyện vọng của đa số quần chúng nhân dân”.
Căn cứ vào đâu để “nguyện vọng của nhân dân kia” được đánh giá và xem xét trong dự án này, trong khi người ta dễ dàng nhận thấy đó chỉ là quyết định vì lơi ích của một nhóm người, cụ thể ở đây là công ty TNHH Thủ Đô II, mà ông Nguyễn Anh Cường đã viện ra 4 năm gian khổ trải qua biết bao nhiêu thủ tục rối rắm và hơn 11 tỉ tiền chi phí đầu tư ban đầu dường như với mục đích đặt công luận vào “việc đã rồi”.
Như vậy, về mặt quy hoạch kiến trúc thì việc xây dựng thêm một tòa nhà cao 17 tầng ở nền chợ 19 -12 chỉ làm tệ hại thêm cảnh quan đô thị vốn đã bị phá vỡ nơi đây. Về mặt công năng cũng không cần thiết khi mà trong bán kính 1km từ khu vực đó đã có nhiều trung tâm thương mại tồn tại từ trước. Ngoài ra về mặt tâm linh và văn hóa như đã phân tích ở trên càng không nên vì lợi ích kinh tế trước mắt của một nhóm người mà bất chấp dư luận.
KTS Phùng Trung Hậu (Tây Ban Nha) - KTS Nguyễn Lê Minh (Mexico) - Nguyễn Quân (Pháp)

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2008

Rồi cũng như một hạt sương mai

Lưu giữ trong tâm khảm tôi là hình ảnh nàng đứng đợi tôi nơi góc đường vào một chiều đông lạnh giá, nhiệt độ ngoài trời có lẽ khoảng 3°C, ngày hôm trước thậm chí đã có những bông tuyết đầu mùa. Nhiệt độ như thế quả là lạnh với người đến vùng nhiệt đới nóng ẩm như tôi đây. Lâu lắm chúng tôi mới có dịp gặp nhau, đúng ra là do tôi bận rộn với việc học hành cũng như mải mê trong những mối quan hệ bạn bè mới nên toàn bỏ lại một bên những dịp có thể gặp lại nàng. Đúng hơn là tôi không chịu được cái cảm giác gặp lại một người mình đã rất mực yêu thương và có lẽ vẫn mãi thương mến nhưng không thể giúp gì được cho người ta ngoài những lời hỏi thăm vô nghĩa.
Mới hai ngày trước thôi là thời khắc của cuộc hẹn nhưng sao lại thấy thật là xa cách như nửa thế kỷ trước, cảm giác thật kì lạ cũng như khi tôi đi bên cạnh nàng, rất gần tưởng như có thể cầm nắm và giữ chặt mãi cho riêng mình nhưng lại thấy biền biệt cách xa phía bên kia bờ đại dương rộng lớn chẳng bao giờ có thể với tới.

Nàng muốn gặp tôi vì lâu lắm chưa gặp, hơn thế đây có thể là lần cuối chúng tôi gặp nhau vì nàng sắp rời nơi này đi xa, mà tôi thì cuối năm sau cũng sẽ như thế. Mặc một chiếc áo bông giữ nhiệt của Nhật bản với hình những bông sakura mà nàng đã mua vào một dịp nào đó sang Nhật.
Chúng tôi cùng gọi hai cốc trà và ngồi trên tầng 2 của quán bán đồ ăn nhanh Quick để nói chuyện. Thực ra người nói chuyện chủ yếu là tôi với những câu hỏi rất chi là vô vị về học hành và những dự định sắp tới. Nàng đang bị bệnh, và hôm trước còn nằm ở bệnh viện để truyền nước biển và tiêm thuốc vì viêm phế quản cấp kèm theo viêm họng. Vậy nên cuộc gặp gỡ cũng chỉ diễn ra trong 15’ ngắn ngủi như vậy thôi với vài lời nhỏ nhẹ và ngắt quảng mà tôi cố gắng mãi mới nghe được.
Rồi đến lúc sắp tạm biệt, nàng đột nhiên nói một cách nghiêm nghị và rõ ràng :
- « Cậu nhìn thẳng vào tớ để tớ xem có gì đổi khác không ? »
- Vẫn vậy nhỉ, cậu vẫn không có gì đổi khác, vẫn với đôi mắt rất sâu và như tớ đã từng nói là rất đặc biệt vì trong đôi mắt ấy người ta nhìn thấy có một đôi mắt khác ở sâu bên trong. Người có đôi mắt như thế này không thể nào là người xấu, đó hẳn là một người tử tế. Mà quả thực cậu luôn luôn tử tế với tớ dẫu tớ từng khiến câu rất đau khổ.
Tôi chỉ cười chứ biết nói gì hơn trước những lời như thế. Rồi cũng nói thêm vài câu :
- Cậu là người đầu tiên và duy nhất kể cho tớ về đôi mắt cận thị nặng của tớ. Cũng là người con gái hiếm hoi bảo rằng tớ là một người đàn ông tử tế, tốt bụng.
Quả thực thì trong đời tôi nhiều khi khá tệ bạc với phụ nữ. Nhưng với nàng thì không ! Bao giờ cũng với một tình yêu thương thiết tha không bờ bến và những gì tốt đẹp nhất lương thiện nhất của cuộc đời này mà tôi có thể có được.
Rồi cũng đến lúc tạm biệt, tôi không nói gì cả mà khẽ nắm bàn tay nàng, bàn tay mà một thời tôi đã nắm rất chặt với bao thiết tha nồng ấm…. Dáng nàng cao lớn mảnh dẽ dần khuất xa trong đám đông náo nhiệt những người trong một buổi chiều cuối năm rất lạnh.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2008

Love

"Tình yêu ở mỗi con người thể hiện một cách khác nhau. Ở người này đó là việc bỏ bất cứ giá nào để giữ lại tình cảm, ở người khác đó là im lặng để cầu mong hạnh phúc đến với người mình yêu. Dù thế nào đi chăng nữa, trong chốn u minh hẳn phải vương mối duyên nợ".

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2008

Vớ vẩn tí...

Năm nay thời tiết thay đổi kì lạ. Mới cuối tháng 11 nhưng một số vùng ở Pháp đã có tuyết rơi, từ Ba Lê kinh kì cho tới vùng biên giới giáp Đức và Bỉ. Sáng vừa cố mãi mới bò ra được khỏi đống chăn thì có người gọi điện khỏe là chỗ bạn ở tuyết đang rơi rất dày.

Một ngày cuối tuần nhàm chán bắt đầu như vậy đó. Bạn kia gọi điện kể chuyện tuyết rơi thì mới nhớ là mình vẫn còn dùng điện thoại chứ không thì cũng chẳng biết dùng nó vào việc gì cả, xem giờ thì đã có đồng hồ rồi. Tháng nào cũng thừa một cơ số forfait chẳng biết dùng làm gì đành gọi điện về Việt Nam cho đỡ phí. Già rồi nên cũng chán luôn nói chuyện ê a qua điện thoại, không hẳn là sợ mất thời gian mà cái chính là chẳng biết nói gì cả. Thời gian trôi chậm nhất là vào những ngày cuối tuần là vậy!

Ai từng sống hay học ở chốn này mới hiểu là cuối tuần với bọn sinh viên nó nhàm chán thế nào. Thành phố vắng vẻ đìu hiu dù Toulouse là trung tâm công nghệ hàng không của cả Âu châu. Bình thường đã vắng và trời lạnh thì càng vắng vẻ hơn. Bọn sinh viên thì cũng chẳng có việc gì mà làm vì thư viện đóng cửa nghỉ hết (mà mình cũng không chăm lên thư viên trừ khi mượn sách), các cửa hàng cửa hiệu cũng nghỉ. Đời sống kiểu Pháp ấy mà, làm hết sức trong tuần và nghỉ ngơi hết mình vào cuối tuần và dịp lễ. Ngày trước còn thuê nhà ở chung nên cuối tuần cũng vui, cùng nhau xem phim hay tổ chức nấu ăn nhậu nhẹt. Có lẽ hồi đó còn trẻ nữa nên cũng thích thế, chứ bây giờ nghĩ đến cảnh ăn uống rượu bia xong rồi các bạn kia hát karaoke ầm ĩ là thấy sợ. Vốn thích yên tĩnh thanh bình nên trò hát hò hay đi disco thấy thật là chán, mặc dù thi thoảng cũng vẫn đi cho có không khí.

Tuần trước tình cờ đi ngoài đường gặp lại bạn gái cũ. Chẳng biết nói gì cả đành giơ tay vẫy vẫy chào. Hay thật, từng gần gũi gắn bó là thế mà giờ gặp nhau còn thấy lạ hơn cả người gặp lần đầu. Mà chia tay cũng có gì mâu thuẫn đâu, chỉ là không hợp nhau về suy nghĩ và lối sống, điều khiến hai người dần dần xa nhau chứ cũng chẳng hề cãi vã to tiếng gì. Mà nhiều người vẫn thi thoảng hỏi là không thể hiểu tại sao hai đứa các cậu có thể đi bên nhau chừng ấy thời gian. Không hè có ý định phủ nhận những chuyện đã qua nhưng mà quả thật là cũng có mấy khi đi bên nhau đâu. Có bạn gái mà cứ thích đi xem phim một mình, đi chơi một mình và mua bia rượu về uống một mình thì sớm muộn rồi cũng hết chuyện mà nói thôi.
Không hiểu tại làm sao mà với em mình ít có mong muốn chia sẽ cuộc sống riêng hay việc học hành, tương lai của bản thân mặc dù vẫn luôn thương mến và muốn quan tâm, đến tận bây giờ vẫn muốn như thế. Có lẽ là lối sống có quá nhiều khác biệt, suy nghĩ xa cách ngay cả trong những việc nhỏ nhặt nhất, dù có tự an ủi là cố gắng tìm điểm chung để cùng tiến lên phía trước, nhưng kiểu đàn ông cứng đầu cứng cổ và hay bất cần như mình đây thì chuyện đó là không tưởng.

Tìm một người biết lắng nghe một thằng nhiều lúc đi cạnh cả buổi không thèm nói lấy một câu và chỉ tủm tỉm cười nhưng nhiều khi lại như bị lên đồng nói đủ thứ chuyện chẳng ăn nhập gì với nhau từ chuyện bà gì bà cô ở quê mới xây ngôi nhà cho tới chuyện triết lý cao siêu, máy bay tên lửa...quả là khó vô cùng. Thế nên giữa cuộc sống nhiều đổi thay và như ai đó nói "chẳng có điều gì là vĩnh viễn, trái tim rồi cũng sẽ phải đổi thay" thì thi thoảng vẫn cứ nhớ một người xa lắc lơ nào đó, người con gái lúc nào cũng bận rộn với cuốn sổ lịch kín mín những planing mà vẫn sẵn lòng bỏ ra cả buổi để ngồi ngồi cùng trên một cái ghế đá bé tẹo cạnh bờ sông để nghe một thằng dở hơi kể những chuyện chẳng ăn nhập gì cả...Cứ nghĩ là dùng một cái máy ghi âm digital rồi ghi lại cả buổi ngồi lảm nhảm kia rồi bắt chính mình nghe lại thì mới thấy kinh khủng.

Quả là dở hơi nếu so sánh người này với người kia.Suy cho cùng mỗi người mà ta biết và quen đều mang đến một thứ tình cảm hay cảm xúc nào đó, không nhất thiết cứ phải là như nhau. Nói là thế nhưng mà tự thân mỗi sự nhìn nhận đã là một sự so sánh rồi.

Ngày hôm kia dọn dẹp giấy tờ lôi ra biết bao là thư từ và thiệp. Gọi là tình thư cũng được, vì là thư của "người yêu" viết cho mà. Đọc lại thấy hay thật, công nhận là viết đẹp và chắc là cũng chân thành nữa, thứ văn chương trau chuốt mà kiểu người cục mịch khô khốc như mình không bao giờ có thể viết nổi một dòng như thế. Cũng không nhớ là hồi xưa đọc những lá thư đó mình có cảm động không, chắc là phải có chứ! Đọc thư của người yêu cơ mà.

Lẫn trong đám thư từ kia cũng có một bức thư khác, không phải bằng tiếng Việt mà bằng tiếng Pháp, thứ tiếng Pháp thô mộc đơn giản và có cả vài lỗi chính tả nữa. Thư này tất nhiên là chẳng thể nào nói là hay ho về câu cú hay ý tứ được. Đại khái thế này "Bạn đừng băn khoăn hỏi là mình gần như không bao giờ nói lên tình cảm của mình đối với bạn, cả cái mối quan hệ mà ta vẫn gọi là tình yêu. Không phải bởi vì tớ không biết nói, thật là dễ dàng nói lên mấy từ đó! Bạn cũng biết là tớ thích những điều nhẹ nhàng không ồn ào cũng như bạn, cũng vì thế mà tớ muốn là tự bản cảm nhận được tình cảm của tớ chứ không cần phải do chính tớ phải nói ra bằng mấy câu quá ư là dễ dàng. Và tớ cũng muốn làm nhiều điều cho bạn hiểu được tình cảm của tớ hướng về bạn thay vì nói lên thành lời.
Bạn có nhớ không, có một lần trời lạnh và thay vì hỏi "có lạnh không" thì bạn nhường cho tớ khăn của bạn. Đó là cách thể hiện tình cảm mà tớ mong muốn nhất...


Viết mấy dòng này gọi là nhật ký cuối tuần cũng được! Thế là qua 2 ngày week end nhàm chán và vô vị. Chờ tuần mới đến với nhiều việc phải làm.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2008

November Rain

Một buổi chiều muộn rãnh rỗi, khoác vội bộ quần áo thể thao cùng đôi dày cũ kĩ cắm máy nghe nhạc vào tai chạy một vòng dọc bờ kênh Midi xa về phía kí túc xá Chapou.
Trời tuy đầu đông nhưng vào chiều muộn nên lạnh hơn hẳn. Không khí như đông đặc lại cùng không gian vắng vẻ dọc 2 bờ kênh. Dạo này sức khỏe hình như khá hơn nên chạy tầm 2km mà không hề thấy mệt. Cũng tốt lắm.
Gặp anh B, thế là vào nhà anh ăn cơm tối luôn. Công nhận là có gia đình vợ con rồi đi học quả là vất vả và nhiều đắn đo. Chứ như mình đây thì cuộc đời êm đềm nhẹ nhàng trôi.
Cuối buổi về thì gặp phải mưa phùn, đi được nửa đường thì trời đổ mưa zông, mưa như trút, kiểu mưa rất hiếm gặp ở đây. Mưa ầm ầm xối xả lên vỉa hè lát đá vốn được trải vàng mượt của cơ man nào lá của một mùa thu vừa mới đi qua. Mặc đồ thể thao mỏng lại đi giầy vải nên ướt như chuột, nước mưa làm mờ cả mắt kính. Lạnh kinh khủng, lạnh còn hơn cả những lần đi học về gặp tuyết rơi những năm trước.

Vậy đó, mưa tháng 11, november rain...


Cause nothin' lasts forever
And we both know hearts can change

Bởi chẳng có gì là vĩnh cửu.
Và trái tim rồi cũng phải đổi thay.

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2008

Quan niệm của người Pháp về Nhà nước pháp quyền.

Quan niệm của người Pháp về Nhà nước pháp quyền.

Học thuyết Rechtsstaat của người Đức chỉ bắt đầu được biết đến tại Pháp vào đầu thế kỉ 20 : Một số tên tuổi lớn của trường phái chính luận Pháp khá gần gũi với tư tưởng của người Đức- Léon Duguit ngay từ 1901 (Nhà nước, pháp luật khách thể và luật thực định), Maurice Hariou vào năm 1903 (Giản lược về luật hành chính và luật công, in lần thứ 5), Léon Michoud vào năm 1906 (Lý thuyết về tư cách pháp nhân và sự áp dụng nó trong luật công Pháp)- dù còn có những ám chỉ và tranh cãi, nhưng thuật ngữ Nhà nước pháp quyền (Etat de droit) vốn được dịch nguyên nghĩa của từ Rechtsstaat thời kì đầu có vẻ như là có mối liên hệ không chối cãi với tư duy pháp lý của người Đức.

Tuy nhiên, quá trình địa phương hóa quan niệm của người Đức diễn ra nhanh chóng ngay sau đó : Ngay từ năm 1907 (Giáo trình luật Hiến pháp), Duguit đã không ngần ngại sử dụng thuật ngữ trên, tiếp sau đó là Hauriou vào năm 1910 vào năm 1910 (Các nguyên tắc của luật công, xuất bản lần 1) cuối cùng là Raymond Carrré de Malberg với việc xuất bản cuốn « Đóng góp vào lý luận chung về Nhà nước »(1920-1922). Sự phổ biến của quan niệm này giải thích rằng đã tồn tại sự đối thoại giữa các nhà luật học Pháp và Đức, sự trao đổi này diễn ra đặc biệt mạnh mẽ trong giai đoạn 1870-1918. Sự đối thoại này không phải chỉ diễn ra một chiều mà thực tế nó có hai mặt : Trong khi « học thuyết pháp lý của người Pháp mang đến cho các nhà luật học người Đức một kết cấu vững chắc về chủ nghĩa tự do trong lĩnh vực pháp lý được khởi nguồn từ cách mạng 1789 » thì « học thuyết pháp lý của người Đức mang đến cho người Pháp mô hình lý thuyết về Nhà nước pháp quyền » (O.Beaud, P Wachsman, 1997) Tại Pháp sức hấp dẫn của tư duy pháp lý của người Đức được lý giải bởi việc hình thành một tầng lớp ưu tú ở tầng cao nhất của chế độ Đức vào thời kỳ này, vượt lên trên tín ngưỡng sau thất bại của cách mạng 1870 (dẫn tới sự hình thành trường phái tự do về các khoa học chính trị vào năm 1871), bởi việc có vẻ như nước Đức cho phép tạo ra sự độc lập trong khoa học pháp lý.

Một phần các nhà luật học Pháp tiếp nhận từ « Nhà nước pháp quyền » (Etat de droit), điều đó không có nghĩa là họ chấp nhận cho từ này một nội dung tương tự với nó vốn có tại Đức, phiên bản Rechtsstaat mà các nhà luật học Pháp biết tới và trở nên chiếm ưu thế, là thứ Rechtsstaat mang nhãn hiệu của các luật gia của Đế chế và « Liên minh thần thánh » mà các nhà luật học Pháp tham gia từ năm 1914 đến 1918, dẫn tới các luật gia này có khoảng cách so với học thuyết của người Đức. Trường hợp của Carrré de Malberg là một ví dụ rõ nhất : Nếu ông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư duy pháp lý của người Đức và nhất là ảnh hưởng của Laband, người ông đã thay thế chức giáo sư luật công của khoa luật Strasbourg, thì Malberg cũng là minh chứng của một tinh thần ái quốc không khoan nhượng khi ông chối bỏ sự du nhập vô điều kiện thứ giáo lý của Rechsstaat, ông không thừa nhận một bộ phận không nhỏ các yếu tố của học thuyết này vốn tỏ ra cho ông là hoặc còn phải tranh cãi, hoặc là không phù hợp với tư duy pháp lý của người Pháp, ông tự mình xây dưng nên lý thuyết riêng về Nhà nước pháp quyền vốn được ông đối chiếu với luật thực định.

Như vậy, lý thuyết Nhà nước pháp quyền khi du nhập vào nước Pháp được kết hợp với truyền thống chính trị va thể chế đặc thù của Pháp thừa hưởng từ thời Cách mạng, so với đó quy chế của nó nhập nhằng : vừa cho phép làm tăng giá trị của lý thuyết này, đồng thời truyền thống đó cũng góp phần phát triển thêm lý thuyết thông qua việc mang tới những luận chứng mới nhằm phê bình các thể chế của nền cộng hòa thứ 3.

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2008

Tính tự hạन chế (P2)

Một mặt, khi từ bỏ quan niệm mang tính di sản (fiscus) cho tới quan niệm nổi trội, học thuyết pháp lý Đức nhìn nhận Nhà nước như một chủ thế pháp lý độc lập, tách bạch với nhà cầm quyền cũng như Quốc gia : Trong khi vào năm 1852 Gerber còn không thừa nhận ý tưởng về tư cách pháp lý của Nhà nước, năm 1865 ông mới đặt nền tảng cơ bản cho hệ thống của mình, như O. Von Gierke (1874) nhấn mạnh : Nhà nước phải được xem như một thực thể pháp lý hoàn toàn khác biệt với Quốc gia, giống như một cá nhân, nó cô đặc lại và có được nền tảng chính trong Quốc gia.Lý thuyết này hoàn toàn ngược lạ với học thuyết của người Pháp vốn xem Nhà nước không gì khác hơn là sự sụ thể hóa về mặt pháp lý của Quốc gia. Cho phép nhìn nhận nhà nước trong sự toàn vẹn và liên tục của nó, cách nhìn này được xem như là « điều kiện tiên quyết cho tất cả cấu trúc của luật công » (Gerber) và cần thiết để thiết lập nên sự độc lập của nó (Isolierung)

Mặt khác, Nhà nước trang bị quyền lực chiếm ưu thế (Herrschaft), thứ pháp luật chủ thể thực sự vốn là của riêng nhà nước và mang dấu hiệu phân biệt : Nhà nước là chủ thể duy nhất nắm giữ quyền cưỡng chế, có nghĩa là là quyền được đưa ra các mệnh lệnh để áp đặt một cách không thể chống lại « quyền lực Nhà nước là thứ uy quyền mà người ta không thể chống lại. Cai trị có nghĩ là chỉ huy không điều kiện và có khả năng ép buộc thực hiện các mệnh lệnh bằng biện pháp cưỡng chế » (Jellinek). Hệ quả logic của cách thức xây dựng này là Nhà nước hiện ra như là nguồn duy nhất của luật pháp »(Ihering) : Chỉ duy nhất Nhà nước có thể tạo cho pháp luật sức mạnh cưỡng chế, như vậy có nghĩa là không tồn tại thứ pháp luật có trước và đứng cao hơn Nhà nước ». Dĩ nhiên, ý tưởng về mối liên hệ hữu cơ giữa pháp luật và Nhà nước không phải được đặt ra ngay lập tức vì những gì do lịch sử có thể hiểu được. : Ví dụ, ta có thể tìm thầy ở Savigny cách nhìn hoàn toàn khác về thứ pháp luật dựa trên tập quán, thứ tập quán vốn có gốc rễ từ « đời sống dân cư » (Volksgeist)- Nhà nước chỉ là một hiện tượng « đơn giản » tạo chất liệu cho sự thống nhất quốc gia, và chính Ihering gắn bó một phần với cách nhìn này. Nhưng kể từ khi thực hiện sự thống nhất nước Đức, học thuyết mới được khẳng định với sự bảo đảm của ba học giả tên tuổi là Ihering, Laband và Jellinek. Ngay cả luật pháp bắt nguồn từ Volksgeist, chính chỉ trong Nhà nước mà pháp luật tìm thấy « điều kiện cho sự tồn tại của chính nó », thực tế nó kéo theo không chỉ quy phạm mà còn chế tài. Vì vậy chỉ có các quy định được ban hành và đảm bảo bằng cưỡng chế bởi Nhà nước mới có tính chất của các quy phạm pháp luật. Cũng thế ý tưởng giới hạn quyền lực Nhà nước bằng pháp luật tỏ ra là hão huyền.

Chính trong ý tưởng rất đặc trưng của trường phái Hegel về « tự hạn chế » mà học thuyết của người Đức tìm thấy chìa khóa của mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật. Bởi vì Nhà nước là nguồn gốc của luật pháp, bởi vì nội dung của mệnh lệnh mang tính pháp lý phụ thuộc vào Nhà nước, luật pháp tạo nên cho Nhà nước sức cưỡng chế đến từ bên ngoài, một giới hạn khách quan : Không chỉ chính Nhà nước xác định các nguyên tắc áp dụng cho các hoạt động của nó và chính Nhà nước quản lý tổ chức nội bộ của nó (quyền tự tổ chức), ví dụng thông qua việc xây dựng nên một bản Hiến pháp, nhưng hơn thế, các quy tắc này không chỉ được áp đặt lên Nhà nước một cách tùy tiện theo ý chí của bản thân Nhà nước : Điều đó không có nghĩa là quyền lực Nhà nước là không giới hạn, mà Nhà nước được ưu tiên tự xác định cho chính nó các nguyên tắc nhằm khuôn khổ hóa việc thực thi quyền lực và sửa đổi chúng khi cần thiết. Địa vị đặc thù này của Nhà nước trong mối quan hệ với luật pháp lý giải rằng bản thân Nhà nước không thể hành động theo các nguyên tắc áp dụng cho các cá nhân giản đơn : Nhà nước phải phục tùng một thứ luật đặc biệt, đó là luật hành chính vốn dựa hoàn toàn trên ý tưởng « tự hạn chế » ; như vậy lý thuyết Rechtsstaat khởi xướng cho việc hình xây dựng luật hành chính, ngành luật mà tại Đức Otto Mayer (1846-1924) thực sự là người sáng lập.

Tuy vậy, khác với học thuyết « Nhà nước quyền lực », vốn quan niệm luật pháp chỉ được sinh ra để liên kết cả chủ thế và không áp đặt lên Nhà nước (Seydel), những người theo lý thuyết « tự hạn chế » xem pháp luật thực sự là một sự cưỡng chế đối với Nhà nước : Không những Nhà nước không thể tự mình hủy bỏ trật tự pháp lý (Jellinel) mà không phá hỏng nền tảng tạo nên chính Nhà nước, nhà nó còn phải tự nguyện tuân thủ mọi luật lệ. Có 2 lý do cho điều này : Một mặt, bởi vì Nhà nước tìm thấy « lợi ích » trong chừng mực luật pháp hiện hành được tuân thủ tốt hơn nếu chính Nhà nước tuân thủ trước (Ihering), mặt khác bởi vì áp lực xã hội, thứ mà Ihering gọi là « tinh thần quốc gia của luật pháp »- thúc đẩy Nhà nước. Chỉ có điều trong quan niệm này thì luật pháp không tạo nên một giới hạn nội tại, một sức mạnh cưỡng chế phục thuộc đối với Nhà nước : Sự giới hạn chỉ là nội tại và sinh ra từ quá trình khách quan hóa ý chí của Nhà nước trong một trật tự pháp lý đặc trưng bởi tính ổn định, hài hòa và được tổ chức có thứ bậc, sự hạn chế này tỏ ra khá mong manh và chủ yếu phụ thuộc vào mạng lưới của các niềm tin mà trên đó tổ chức chính trị được thiết lập hơn là phụ thuộc vào sức mạnh của luật pháp.

Học thuyết Rechtsstaat của người Đức được học thuyết pháp lý của người Pháp xem xét bằng một thái độ nghi ngờ : được nhìn nhận như là công cụ để hợp pháp hóa chế độ chính trị đế chế, nó bị đánh giá là đối lập với quan niệm Nhà nước Quốc gia được kế thừa từ cách mạng Pháp.

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2008

Sự tự hạn chế

Tự hạn chế
Dẫn nhập đoạn này vì hơi khó hiểu
Để bênh vực Rechtsstaat, học thuyết Đức sáng tạo ra thuyết "Nhà nước tự giới hạn". Một mặt, thuyết này thừa nhận truyền thống tư tưởng trước đây: Nhà nước là nguồn gốc của luật pháp, luật pháp không áp đặt trên Nhà nước một ràng buộc từ bên ngoài, một giới hạn khách quan. Một mặt, thuyết này nói thêm rằng điều đó không có nghĩa rằng quyền uy của Nhà nước là vô hạn, mà chỉ có nghĩa rằng Nhà nước có một đặc quyền - đặc quyền tự mình đặt ra cho mình những nguyên tắc tạo khung cho việc thực hiện quyền lực của mình. Vị thế đặc biệt đó của Nhà nước trong mối tương quan với luật pháp cắt nghĩa tại sao Nhà nước không bị chi phối bởi cùng những nguyên tắc như những cá nhân thông thường: Nhà nước được đặt dưới một luật pháp đặc biệt, luật hành chính, bảo vệ Nhà nước hơn.

Mối quan hệ Nhà nước và pháp luật đã được xem xét trong tư duy triết học Đức theo cách thức dường như đối lập nhau. Trong khi với Kant người xuất hiện như là người khởi đầu đích thực của quan niệm tự do về Rechtsstaat thì thứ luật duy nhất có thật là « luật tự nhiên », « ý niệm về luật pháp » đến trước kinh nghiệm chính trị (quan niệm siêu hình) và chuyển tới một trật tự pháp lý được thiết lập thoạt nhiên dựa trên Lý tính và nhằm phục vụ cho tự do. Đối với Fichte và Hegel thì không có thứ luật nào ngoài luật nhà nước. Fichte cho rằng quan hệ pháp lý là do nhân dân tạo nên trong Nhà nước : « Không tồn tại thứ luật tự nhiên nào hết, có nghĩa là luật pháp không thể là mối quan hệ pháp lý có thể có giữa người vớ người nếu nó không hình thành trong một cộng đồng và không biểu hiện dưới các luật lệ thực định » do vậy, luật tự nhiên hoà lẫn với luật thực định của Nhà nước. Cũng như vậy Hegel cho rằng Nhà nước phải tuân thủ những giới hạn bên ngoài, vì nó hiện thực hóa sự thống nhất, tổng hợp của lợi ích chung và những quyết định đặc biệt.
Tuy vậy, sự đối lập bề ngoài bị nhạt dần. Khi coi Nhà nước là điều kiện cần thiết để diễn dịch ý niệm pháp luật và thực thi tự do. Kant đã gieo mần cho chủ nghĩa thực chứng pháp lý, điều đương nhiên dẫn Kant tới chỗ bào chữa cho sự chuyên quyền « sáng suốt » của Frédéric II. Ngược lại, việc phủ nhận ý tưởng về một thứ luật tự nhiên có trước Nhà nước không có nghĩa là thiếu sự hạn chế quyền lực Nhà nước : Theo Fichte thì Nhà nước có trách nhiệm với cộng đồng đã trao cho nó quyền làm ra luật lệ. Lý luận của Hegel dựa trên ý tưởng Nhà nước là sự thường xuyên liên tục, với tư cách là nguyên tắc tổng quan, hoạt động dựa trên sự phủ định, trên sự lui tới từ tổng thể đến cụ thể, điều này dẫn ra một yếu tố của sự tự hạn chế. Fichte và Hegel, sau đó là Hobbes vốn cho rằng Nhà nước thông qua thỏa ước vốn sản sinh ra nó, được trang bị sự tự chủ hoàn toàn đối với luật lệ, không có nghĩa vụ phải tuân thủ ngay cả mục tiêu vốn tạo ra chính nó. Đối với Spinoza thì chính Lẽ phải thúc đẩy Nhà nước tuân thủ các nguyên tắc mà nó đặt ra.
Dẫu sao thì cách nhìn của trường phái Kant về một thứ « luật tự nhiên lý tính » vốn bao phủ bằng ý tưởng tự do sẽ bị xóa bỏ trong học thuyết pháp lý của người Đức sau thất ại của cách mạng 1848 và sự nắm quyền của Bismarck : luật công như thế sẽ có su hướng hòa vào « luật công thực định », đầu tiên là với Gerber rồi tới Đế chế của Laband (luật công của đế chế đức, tập 6, 1900 -1904)

@Copyright Quan NGUYEN