









Trung Hoa là nền văn mình cổ xưa nhất còn tồn tại trên trái đất. Và sự tiếp nối độc nhất như vậy hẳn nhiên bao hàm mối quan hệ phức tạp của một dân tộc với quá khứ của họ. Thực chất sâu xa của sự bền vững đáng kinh ngạc về văn hóa này dường như là một nghịch lý: đó là việc nuôi dưỡng những giá trị đạo đức và tâm linh thuộc về con người cổ đại có vẻ thường được gắn với sự thờ ơ hay bàng quan đối với những di sản vật chất của quá khứ (thậm chí là ngay cả trong thời kì những tín ngưỡng lâu đời bị đả phá một cách mạnh mẽ nhất). (Dù bản thân sự tiếp nối về tinh thần bất chấp hay nhờ có sự tàn phá một phần những tư liệu vật chất của truyền thống là một vấn đề khác, nó cũng sẽ được đề cập một cách sơ lược sau đây)???
Bài viết này nhằm khám phá sơ bộ hiện tượng gìn giữ thế giới tinh thần đồng thời với việc tàn phá các yếu tố vật chất đã được quan sát trong suốt tiến trình lịch sử nền văn hóa Trung Hoa. Chủ đề thì vô cùng, vì thế ở đây tôi sẽ chỉ vạch ra một vài định hướng và đề tài cho những nghiên cứu sâu hơn. Ở mức độ này, tôi chỉ đơn thuần định hình vấn đề chứ không nhằm hướng tới việc đưa ra một giải pháp cụ thể nào.
Sự hiện hữu của giá trị tinh thần và thiếu vắng các yếu tố vật chất gắn với quá khứ ở Trung Quốc.
Trong cuốn tự truyện của mình, Carl-Gustav Jung đã diễn giải lý do vì sao ở cái độ tuổi già cả như vậy ông lại mong mỏi được tới thành Rome, nơi ông chưa bao giờ đặt chân tới. Ông cứ trù trừ hết lần này tới lần khác do e sợ mình sẽ không chịu đựng nổi niềm xúc động khi được diện kiến cái thực thể sống của nền văn hóa cổ đại Âu Châu. Cuối cùng, ông đã bị ngất đi và bất tỉnh trong phút chốc khi bước vào 1 đại lý du lịch ở Zurich để mua vé. Sau trải nghiệm này, ông đã có 1 quyết định sáng suốt là từ bỏ kế hoạch đó và ông không bao giờ được tận mắt chiêm ngưỡng thành Rome nữa. Hầu hết các nhà Hán học đều không được phú cho một độ nhạy bắt sóng như ông Zung, và cho dù có tinh nhạy được như thế đi chăng nữa thì cũng khó cho những người nghiên cứu về Trung Quốc cổ điển có thể tiếp cận Trung Quốc hiện đại ngày nay mà không quá đỗi xúc động hay xâm chiếm bởi tinh hoa lạ thường dường như tỏa ra từ khắp nơi ở một vùng đất quá đỗi gắn bó với lịch sử này.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự hiện diện của quá khứ ở đất nước Trung Quốc; đôi khi là ở những địa điêm không ngờ nhất, nơi có số lượng khách viếng thăm dày đặc: những tấm áp phích ở rạp chiếu phim, quảng cáo máy giặt, tivi hay kem đánh răng được bày dọc những con phố được viết bằng thứ ngôn ngữ hầu như không biến đổi gần 2 ngàn năm nay. Trong nhà trẻ, những đứa bé còn đang tập đi, miệng hát ê a bài thơ Tang ra đời khoảng 200 năm trước. Ở các nhà ga, những nhân viên tư vấn lịch trình tàu chạy đơn thuần cũng có thể là một trải nghiệm làm sững sờ bất cứ một nhà sử gia văn hóa nào: trí tưởng tượng bị nhào trộn bởi danh sách dài những thành phố vốn gắn với những thời kỳ huy hoàng của các triều đại trong quá khứ.Hay một lần nữa xuất hiện trong bối cảnh đặc trưng gần đây, các nhà khảo cổ học đã khám phá ra trong 1 ngôi mộ 2 ngàn năm tuồi, giữa những loại thực phẩm đã được chôn cùng người chết là một loại bánh nhân thịt (bánh bao) giống y như nó vẫn đang được bày bán ở các cửa hàng góc phố ngày nay. Và chúng ta có thể lấy vô số ví dụ tương tự như vậy.
Nhưng đồng thời, nghịch lý lại là cái quá khứ mà dường như thâm nhập và biểu thị với một sức sống đáng kinh ngạc như vậy, cũng vượt khỏi sự nhận biết về mặt vật chất của chúng ta một cách kì lạ. Vẫn cái đất nước Trung Hoa vốn giàu về lịch sử và các hồi ức này kì quặc thay lại thiếu vắng bóng dáng những công trình cổ đại. Sự vắng mặt các yếu tố vật chất liên quan tới quá khứ trong phong cảnh đất nước Trung Hoa có thể là yếu tố làm lúng túng những người thực dân (khai hóa) phương Tây, đặc biệt là nếu họ tiếp cận Trung Quốc với những tiêu chí và chuẩn mực được hình thành một cách tự nhiên trong môi trường Âu Châu. Tại Châu Âu, dù phải trải qua vô số cuộc chiến tranh và tàn phá, mỗi thời đại đều để lại một số lượng đáng kể những mốc giới hạn (ranh giới) các công trình kỉ niệm: những tàn tích của Hy Lạp và La Mã cổ đại, tất cả những thánh đường lớn thời trung cổ, các nhà thờ (giáo đường) và lâu đài của giai đoạn Phục Hưng, những công trình của kỉ nguyên Ba rôc; tất cả những cái này tạo nên một chuỗi các chứng tích kiến trúc liên tục góp phần duy trì, làm sống mãi những hồi ức của quá khứ ngay tại trung tâm những thành phố hiện đại của chúng ta. Ở Trung Quốc thì lại ngược lại, nếu trừ đi một lượng nhỏ những khúc đồng diễn nổi tiếng mà mức độ cổ xưa của chúng là tương đương thì điều gây ấn tượng với những du khách có học thức là sự thiếu vắng những công trình kỉ niệm của quá khứ. Hầu hết các thành phố Trung Quốc, bao gồm và đặc biệt là những thành phố vốn là thủ phủ cũ hoặc trung tâm văn hóa có uy tín trong lịch sử, ngày nay thể hiện những khía cạnh mà có thể ko chính xác là cái mới hay hiện đại (bởi vì nếu hiện đại hóa là cái đích mà TQ đang hướng đến thì vẫn còn một quãng đường dài trước khi nó có thể đạt tới) nhưng dường như lại thiếu vắng những đặc điểm truyền thống. Tóm lại, chúng có vẻ như là một sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa cuối thế kỉ 19. Vì thế, cái quá khứ mà vẫn tiếp tục tạo sức sống trong đời sống người TQ bằng những cách thức nổi bật, bất ngờ và hết sức tinh tế, dường như tồn tại trên mỗi con người hơn là gạch đá. Lịch sử TQ vừa thực sự thuộc về yếu tố tinh thần lại vừa vô hình về mặt vật chất.
Cần phải lưu tâm rằng, khi đề cập tới sự phá hủy các yếu tố vật chất gắn với quá khứ, tôi không có ý lại đề cập 1 lần nữa tới sự tàn phá rộng khắp và có tính hệ thống do cuộc “Cách mạng văn hóa” gây ra. Trong những năm cuối thời Mao, sự tàn phá này đúng là dẫn tới sa mạc văn hóa theo nghĩa đen của nó, ở vài thành phố, 95 cho tới 100% những di tích lịch sử và văn hóa đã biến mất vĩnh viễn. Tuy nhiên, lại phải nói rõ ngay rằng, nếu tại nhiều thành phố, các băng nhóm học sinh có thể cướp bóc, thiêu trụi và san bằng gần như toàn bộ các di tích cổ thì trong trường hợp cá biệt này, đó là do chẳng còn lại nhiều cho chúng tàn phá. Quả thực, có rất ít công trình còn tồn tại được sau cái thảm họa lịch sử ban đầu đó, và kết quả là những kẻ chuyên đi phá hoại các công trình văn hóa (do ác tâm hoặc ngu dốt) chả có mấy mục tiêu để mà bỏ sức. Trong cái bối cảnh này, việc nhìn nhận cuộc “Cách mạng văn hóa” như một sai lầm ngẫu nhiên có thể là mốt sơ suất. Nếu đặt lại nó vào một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thực ra nó dường như là biểu hiện gần nhất của cái hiện tượng đả phá tín ngưỡng nghiêm trọng cổ xưa mà đã tái diễn trong suốt các thời kì lịch sử. Không phải trở về với lịch sử xa xôi nào, cuộc nổi dậy Taiping vào giữa thế kỷ 19 đã tàn phá một cách trầm trọng hơn nhiếu so với cuộc “Cách mạng văn hóa”. Về sau, tôi sẽ còn trở lại với câu hỏi vể sự tàn phá có tính chu kỳ các di sản vật chất có liên quan tới quá khứ mà dường như đã trở thành đặc trưng của lịch sử đất nước Trung Hoa này.
Do đó, sự thiếu vắng gây bối rối những cảnh quan công trình lịch sử của Trung Quốc không thể đơn thuần nhìn nhận như là kết quả của những năm tháng hỗn loạn thời Mao Trạch Đông. Đặc trưng đó còn có tính chất lâu dài và sâu xa hơn nữa, và nó đã thực sự gây ấn tượng(chú ý) đối với những du khách Châu Âu vào những năm thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Riêng về mặt này, tôi cho rằng khó mà tìm được nhân chứng nào có tư cách và cởi mở hơn Victor Segalen (1878-1919), một nhà thơ đặc biệt, người vừa là nhà Hán học vừa là nhà khảo cổ học với nhiều thành tựu đáng kể. Ông đã ở Trung quốc vài năm vào thời điểm kết thúc của đế chế (giai đoạn kiểm soát) và tiến hành 2 cuộc hành trình khảo cổ dài vào những tỉnh vùng sâu xa hơn nữa của nội địa. Trong bài thơ tản văn “Aux Dix mille années” (1912), ông đã tổng kết lại một cách dễ nhớ cái nghịch lý mà tôi cho là nguyên nhân thái độ của người TQ đối với quá khứ của mình (Thực sự thì toàn bộ bài viết của tôi được khơi nguồn từ bài thơ này, và điều mà tôi đang cố làm ở đây chỉ là đưa ra 1 lời bình (nhận xét) cho nó).
Bài thờ của Segalen là một sự suy ngẫm về mối liên hệ giữa nền văn hóa Trung Hoa và thời gian. Mở đầu là sự gợi lên tương đối những nguyên tắc kiến trúc của các nền văn mình vĩ đại trong quá khứ và đối lập chúng với quan niêm của người Trung Quốc. Những quan điểm phi Trung Quốc (từ những quốc gia khác TQ), từ Ai Cập cổ đại cho tới phương Tây hiện đại về cơ bản là những nỗ lực chủ động,xông xáo nhằm thách thức và vượt qua sự tàn phá, bào mòn của thời gian. Họ có tham vọng kiến lập nên sự vĩnh cửu thông qua việc sử dụng những vật liệu bền chắc nhất có thể và những kỹ thuật mà đảm bảo được mức độ đàn hồi (linh hoạt?) tối đa. Nhưng dù có làm thế đi chăng nữa, những nhà kiến trúc (người thi công?) chỉ đang cố trì hoãn sự thất bại không thể tránh khỏi của mình mà thôi. Ngược lại, người Trung Quốc đã nhận thức được – như trong những lời thơ của Segalen – “nothing immobile can escape the hungry teeth of the ages” (ko một thực thể không hoạt động hay bất động? nào có thể thoát khỏi những chiếc răng háu đói của thời gian). Vì thế những kỹ sư xây dựng người TQ mà chịu khuất phục trước sự tấn công của thời gian làm chệch hướng của nó tốt hơn.
Những suy ngẫm của Segalen được hình thành từ những dữ liệu chính xác về mặt kỹ thuật: những công trình kiến trúc Trung Hoa thực sự được làm từ các vật liệu mỏng manh và dễ hỏng, chúng bao gồm cả 1 kiểu ”lỗi thời cố hữu”, chúng nhanh chóng bị hư hỏng và cần phải xây lại thường xuyên. Từ những quan sát thực tế này, ông rút ra một kết luận có tích chất triết học: người Trung Quốc đã thực sự chuyển đổi được vấn đề: sự vĩnh cửu không nên tồn tại ở các công trình mà nên sống trong những người xây dựng chúng.Trạng thái nguyên thủy ngắn ngủi nhất thời của công trình kiến trúc giống như một món tặng phẩm cho sự phàm ăn của thời gian, và vì cái giá phải trả cho những sự hi sinh như vậy, các nhà kiến tạo cần phải đảm bảo tính bất diệt của các thiết kết thuộc về yếu tố tinh thần.
Quy hoạch và quản lý đô thị là một quá trình cải biến không ngừng nhằm hướng đến một môi trường sống hài hòa, bền vững và công bằng cho mỗi người dân trong đô thị đó.
Paris với kế hoạch Haussmann đã biến đổi sâu sắc, đưa thành phố này thành một trong những đô thành đẹp và lãng mạn nhất địa cầu. Không dừng lại ở đó, chính quyền nước Pháp đang khẩn trương xúc tiến dự án nhằm hướng Paris tới năm 2030.
Ngày 29 tháng 04, tổng thống Pháp Sarkozy đưa ra các đề xuất nhân dịp triển lãm tại cung kiến trúc và di sản Paris
Đây là một trong những ưu tiên hàng đầu của nhiệm kỳ năm năm tổng thống mà ông Sarkozy muốn nhắm tới và ông đã yêu cầu khoảng một chục kiến trúc sư suy nghĩ về hồ sơ này và trình bày đồ án đang được trình bày tại Trung tâm Kiến trúc và di sản.
Trong bài diễn văn đọc hôm 29.04 tại Trung tâm Kiến trúc và di sản, tổng thống Nicolas Sarkozy đã công bố những đường nét chính của dự án quy hoạch một vùng rộng lớn bao gồm thủ đô Paris, các khu ngoại ô và các sân bay quốc tế, nhằm biến cả vùng "Đại Paris" thành đầu tàu kinh tế cho cả nước Pháp và Châu Âu.
Tổng thống Sarkozy mong muốn công trình được khởi động ngay từ năm 2012, với mục tiêu là thực hiện tốt mọi kế hoạch trước năm 2030.
Các ý tưởng được trưng bày tại đây bắt đầu từ ngày 29 tháng tư, bao gồm 10 đề xuất của các kiến trúc sư phụ trách đề án được Sarkozy giao phó vào ngày 17 tháng 9 năm 2007 nhằm dự kiến « một dự án mới về quy hoach tổng thế ». Cũng chính tổng thống Pháp là người chính thức khởi động dự án « Đại Paris ».
Các kiến trúc sư được mời tham gia đề xuất đều là những tên tuổi lớn của làng kiến trúc thế giới như các kiến trúc sư người Pháp Jean Nouvel, Christian de Portzamparc, kiến trúc sư người
Quá trình nghiên cứu và đánh giá rất nghiêm túc. Bị bó chặt không gian trong khu nội đô, Paris ngột ngạt trong diện tích 105km nhỏ bé của thành phố, nội đô Paris chỉ bằng 1/12 diện tích London và 1/8 diện tích Berlin. Bên ngoài nội thành là các khu ngoại ô rộng lớn lộn xộn xen kẻ các khu dân cư lọt thỏm ở giữa, các quần thể kiến trúc khổng lồ, những trung tâm thương mai vô tận, và cả những khu đất hoang bị lãng quên. Chưa kể thời gian đi lại di chuyển điên rồ và sự chênh lệch về kinh tế một cách nghiêm trọng. Về tổng thế, như Winy Mass kết luận thì Paris tổng quan là « một thành phố xấu xí ».
Chuyên gia kỳ cựu trong lĩnh vực quy hoạch ngoại ô, Roland Castro kết luận “cần phải xóa bỏ thứ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong quy hoạch. Đảm nhận một công việc nghiêm túc, chúng tôi phải thực hiện lại ở tầm lớn hơn dụ án « bình định đô thi » đã thành công bởi Haussmann ở nội ô Paris, với một không gian công công bình đẳng và cùng sẻ chia hơn ».
Paris xanh
Paris tương lai trong mắt của các kiến trúc sư sẽ là một « Paris xanh », kết thúc thời kỳ thống trị của xe hơi và sự chi phố của nó đối với toàn thể các chính sách đô thị. Ở ngoại ô cũng như trong các trung tâm nội đô sẽ đa phần sẽ là các loại xe hơi dùng điện, xe đạp và các phương tiện giao thông công cộng. Màn đêm buông xuống, dưới ánh sáng của những ngọn đèn đường tiết kiệm năng lượng là những đoàn tàu điện dùng vận chuyển hàng hóa từ các bến bãi lưu trữ ở ngoại ô thành phố. Cải cách hệ thống vận chuyển này giúp giảm bớt diện tích của đường giao thông nhường chỗ cho diện tích các công viên, quảng trường và đường dành cho người đi bộ. Giảm thiểu tiếng gầm rú của động cơ ô tô, sự ngột ngạt của khí thải sẽ giúp Paris trở nên dễ chịu hơn.
Đề án của Roland Castro
Cuộc cách mạng xanh tiếp tục được thực hiện ngay cả trong lòng đất « Ngay dưới lòng đất của các công viên, chúng ta có thể kết hợp xây dựng các trung tâm xử lý rác thải cũng như sản xuất điện và cung cấp nhiệt sưởi ấm. » Richard Rogers khuyến nghị. Không dừng lại ở đó, nếu chúng ta ngước đầu lên, điều kì diệu sẽ còn tiếp tục : Trên những mái nhà kiểu mới màu kẽm của kinh đô ánh sáng xen kẻ hàng loạt những tấm pin năng lượng mặt trời, kèm theo là những « tấm thảm xanh » của những khu vườn treo lớn sẽ thu nhận nước mưa và tạo thành lá phổi xanh của thành phố ngay giữa hàng loạt những trạm phát điện gió mini.
Những tòa nhà cao tầng ở đường chân trời.
Dưới ngọn chì của Jean Nouvel, Paris vào năm 2030 sẽ có tầm cao mới. Những tòa nhà cao tầng kiểu mới vươn lên bầu trời thủ đô thành những trục lớn xung quanh vùng ngoại ô. Những điểm nhấn đô thị này hướng tới việc tạo ra bộ mặt mới cho thành phố, một dáng hình vừa xa lạ vừa quen thuộc, vừa thanh mảnh vừa to lớn. « Di sản của chúng ta bao gồm những yếu tố về chiều dọc- những tháp chuông nhà thờ, tháp nước, lâu đài có thể là cảm hứng cho những tòa cao ốc mới ». Jean Nouvel nhấn mạnh. Những tòa nhà cao tầng kiểu mới thực sự là khuôn mẫu cho sự phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa khu dân cư với văn phòng và sản xuất năng lượng, bao quanh là những khu vườn rộng mở.
Một trăm bốn bảy tòa cao ốc đã có lâu nay ở Paris sẽ được tân trang lại. Biểu tượng của thủ đô Paris, tòa tháp Montparnasse sẽ được sửa chữa và trang trí lại phần đỉnh tháp theo đề xuất của Frank Gehry và xây thêm ba cao ốc khác liền kề nhằm giảm bớt sự đơn độc và tầm thường của tòa tháp cao hơn 200 mét này.
Khoác áo cho bầu trời chỉ là một phần nhỏ, người ta còn có thể dạo bộ trên đó. « Những ban công kiểu Paris » được đề xuất nối liền các tòa tháp, nhô ra các công viên và chạy dọc các khu phổ mới, giống như đã có sẵn ở khu Batignolles. « Đó là những khu sân ở trên cao và rộng rãi, với những phố dạo bộ rộng 30m, nhiều tầng khác nhau và kéo dài cũng như nối liên các tòa nhà và các công trình khác, tạo nên một kết cấu không gian công cộng mới và một nhịp điệu đô thị khác ».
Một nhà ga lớn Bắc Pháp- Châu Âu.
Tại bốn phương của « Đại paris », những nơi cao báo hiệu trên bầu trời vùng Ile-de-France những trung tâm mới của vùng, sẽ làm cân bằng về mặt địa lý và kinh tế của cả vùng rộng lớn : Massy và vùng cao nguyên Saclay, khu Bourget và Roissy, Orly và Rungis, cảng Gennevillier, công vinee
« Paris có may mắn trở thành ngã tư của hệ thống đường sắt cao tốc, nhưng các nhà ga hiện có (gare miền Tây và ga miền Bắc) không cho phép tạo nên một trung tâm thực sự » kiến trúc sư Christian de Portzampars nhận xét. Để vận hành hiệu quả, một trung tâm giao thông đường sắt như vậy cần có một trung tâm hội nghị, các khách sạn tiêu chuẩn, các văn phòng với đầy đủ dịch vụ cần thiết. Phải có nơi để mọi người có thể gửi xe và con cái của họ ở đó cả ngày- Đó là lý do cần phải chuyển các nhà ga hiện nay tới Aubervilliers, cũng như điều chỉnh các hoạt động kinh doanh về hướng Đông Bắc thay vì tập trung tất cả vào khu
Việc quy hoạch lại hệ thống nhà ga này cũng có ưu điểm lớn là sẽ tạo thêm các đại lộ mới và các công viên lớn khi chuyển đổi các nhà ga cũ và hệ thống giao thông đường sắt hiện có.
Những công trình rải rộng khắp.
Bên cạnh các nhà ga, vào năm 2030, thủ đô nước Pháp sẽ phân bố lại các công trình kiến trúc và các kết cấu hạ tầng khác trải rộng khắp trên toàn bộ lãnh thổ. « Paris cần phải thể hiện một chính sách đô thị mới thông qua việc xây dựng các công trình văn hóa ở vùng ngoại ô » Roland Castro kiến nghị. Để đáp ứng nhu cầu giải trí cuối tuần cũng như dã ngoại của học sinh, các công trình lớn sẽ được xây dựng ở vùng ngoại ô như viện bảo tàng tưởng niệm thế giới, hội chợ triển lãm Gênse, nhà hát… Những công trình này sẽ phần nào giảm bớt sự thiếu hụt các công trình văn hóa ở các khu ngoại ô.
Chính phủ sẽ làm gương trước tiên. Khoảng hai mươi cơ quan cấp bộ và các cơ quan hành chính lớn sẽ chuyển tới Créteil, Clichy, Sarcelles và Gennevilliers. « Phân bổ lại các bộ ra vùng ngoại ô điều đó cũng giúp ích cho việc tạo ra lợi ích công cộng ở khắp nơi », Roland Castro lập luận. Biểu trưng cho quá trình này sẽ là trụ sở của « Đại Paris », một tòa nhà tiết kiệm năng lượng và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường được xây dựng tại điểm hợp lưu của sông Seine và sông Marne.
Những khu ngoại ô nhân văn hơn.
Dĩ nhiên quan trọng hơn việc thiết lập những công trình khổng lồ là việc mỗi km lãnh thổ phải được chăm sóc để tạo cho nó một bộ mặt đô thị : Mạng lưới đường phố và đại lộ chạy dọc các khu dân cư cho phép lưu thông từ khu vực này sang khu vực kia môt cách thuận tiện. « Mạng lưới đường cao tốc và đường sắt đã có làm gia tăng thêm nhiều hố ngăn cách và làm cho lãnh thổ bị chia cắt đứt đoạn » Christian de Portzamparc phân tích. Để khắc phục người ta sẽ thiết lập các cầu vượt và hầm dành cho người đi bộ xuyên qua các đường quốc lộ, đường cao tốc cũng như đường sắt.
Những khu dân cư rộng rãi.
Vào năm 2030, người dân Paris có thể cư trú ở mọi nơi trên toàn bộ thủ đô. Lâu nay người dân thủ đô luôn đối mặt với giá nhà đất cao nơi đây và buộc phải sống chuyển ra sống ở các vùng rất xa trung tâm. 20 năm tới tình trạng này sẽ được khắc phục, khoảng 60.000 chỗ ở được tạo ra hằng năm. « Đại Paris » vào năm 2030 sẽ có thêm 1.5 triệu dân so với năm 2009. Người dân có thể xây nhà ở khắp mọi nơi và nhờ thế làm hạ giá nhà đất bằng 2 nguyên lý đơn giản : Làm cho giá đất rẻ hơn thông qua tăng nguồn cung và xây dựng nhà cửa ở những khu vực lâu nay người ta cho là không thể.
Để làm được đó, kiến trúc sư Yves Lion cho rằng « chúng ta phải chấp nhận việc dân cư sống gần các khu vực đường sá, giống như những gì mà người Hà lan đã làm thay vì buộc dân cư sống cách xa các khu vực này như lâu nay. Để làm điều này, người ta kiến nghi bãi bỏ quy định mang tên Dupont vốn cấm xây dựng trong vòng 100m kể từ các con đường có mật độ lưu thông cao. « Người ta hoàn toàn có thể xây dựng ở nhưng nơi có nguy cơ lũ lụt, cần phải chấm dứt nguyên tắc phòng ngừa vốn chỉ giúp ích cho các ông tỉnh trưởng ăn no ngủ kỹ ». Roland Castro nói thêm.
Hạn chế sử dụng xe hơi.
Giao thông nội đô
Sẽ có khoảng 270km2 đất lâu nay là những con đường chật đầy xe cộ sẽ được chuyển đổi thành các đại lộ có cây xanh thuận tiện cho người đi bộ chạy dọc theo các khu dân cư, trên các con đường « kiểu mới này » sẽ cùng lúc có tàu điện xe đạp cùng song hành với xe hơi.
Người ta cũng sẽ sử dụng xe hơi ít đi bằng cách tăng thêm các khu vực cấm xe hơi và tăng giá xăng đồng thời khuyến khích dân chúng sử dụng các phương tiện giao thông sạch khác. Sự bùng nổ của mua sắm thông qua mạng internet làm nảy sinh thêm hàng trăm trung tâm giao hàng trở thành các trung tâm tập trung của các khu dân cư. Một mô hình phỏng thoe konbini của Nhật, hệ thống ác siêu thị nhỏ dựa trên dây chuyền phân phối được cấu trúc tốt và tin học hóa giảm thiểu việc vận chuyển. Người ân có thể đi mua sắm thông qua việc lướt web, trả tiền và nhận hàng mà không cần phải di chuyển.
Đến năm 2030, việc di chuyển bằng ô tô trong khu vực Paris sẽ giảm đi đáng kể. Thông qua quá trình cơ cấu lại các trung tâm kinh tế và hệ thống giao thông công cộng. Kế hoạch này liên quan đến việc xây dựng một hệ thống tàu điện ngầm chạy xung quanh thành phố Paris và nối liền các trục kinh tế, như là Roissy, Orly,


Nhiều tuyến xe "lộ thiên" trong mắt của kiến trúc sư Christian de Portzamparc
Có tên là "Grand Huit" và dài khoảng 130 cấy số, hệ thống métro này sẽ nối kết tất cả các trạm chót của các đường tàu điện ngầm và xe bus có sẵn. Số tiền đầu tư vào dự án này là 21 tỷ đôla.
Dự án « Đại Paris » cũng sẽ trả lại cho thiên nhiên vị trí xứng đáng của nó thông qua việc tăng thêm các công viên và hồ nước tại thủ đô và vùng phụ cận. Chính quyền cũng cho phép người dân thành phố trồng cây ở những khu vực có thể. Ngoài ra còn thiết lập một vành đai rừng cũng như các khu vực nông nghiệp ngay trong thành phố, « Nông thôn không còn được xem như là sự kéo dài tự nhiên của thành phố cũng như không đơn thuần là một nơi để nghỉ ngơi giải trí mà đó phải là một bộ phận không thể tách rời của không gian đô thị và của nền kinh tế đô thị » Yves Lion giải thích. Để đạt được mục tiêu này, các nhà hoạch định dự án đưa ra tiêu chỉ khai thác sử dụng bền vững các khu rừng của thủ đô. Theo đó đến năm 2030 diện tích rừng của vùng sẽ tăng thêm 30%, với 1400km2 rừng được tăng thêm bổ sung cho 4500km2 hiện có sẽ tạo cho Paris và vùng phụ cận một thảm thực vật rộng lớn góp phần cung cấp gỗ để sưởi ấm vào mùa đông cũng như làm vật liệu xây dựng…góp phần chống lại các ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu.

Paris xanh của Finn Geipel