Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Nhà nước pháp quyền: nhận thức của cộng đồng quốc tế

Nhà nước pháp quyền được quan niệm như một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước với các thuộc tỉnh về hình thức cũng như nội dung. Ban đầu được phổ biến và áp dụng tại một số quốc gia phương Tây, Nhà nước pháp quyền dần trở thành một yêu cầu mang tính giả trị đặt ra cho mọi Nhà nước. Bên cạnh quá trình tiếp nhận, phổ biến ở cấp độ quốc gia, Nhà nước pháp quyền dần trở thành một chuẩn mực trong quan hệ quốc tế, bên cạnh chuẩn mực về dân chủ và tôn trọng, bảo vệ quyền con người.

NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

Dẫn nhập Nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người dưới nhiều góc độ khác nhau được tiến hành ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chủ yếu trình bày quyền con người dưới góc độ luật pháp, đặc biệt là dưới góc độ luật pháp quốc tế và các cơ chế bảm đảm quyền con người . Quyền con người dưới góc độ triết học gần như không được đề cập, mặc dù các triết gia là những người đầu tiên đề ra các quan niệm về quyền con người trước khi các quyền này được thể chế hóa trong luật thực định các quốc gia cũng như các văn bản của luật pháp quốc tế. Thời điểm xuất hiện của luận thuyết về quyền con người là vấn đề gây tranh cãi. Người ta thường chú ý đến sự cụ thể hóa quyền con người trong các văn kiện quốc gia, tức luật thực định mà có xu hướng bỏ qua các tác phẩm triết học làm tiền để cho sự lên ngôi của quyền con người. Hơn nữa, sự lựa chọn văn bản luật thực định nền tảng của quyền con người khác nhau ở từng quốc gia: Tại Pháp là Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, được Quốc hội lập hiến thông qua ngày 26 tháng 8 năm 1789, được xem như văn bản thiết lập nên chế độ mới. Văn bản này là sự tiếp nối của Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ được Quốc hội thông qua ngày 4 tháng 7 năm 1776, và tại Anh Quốc là bản Tuyên ngôn về các quyền (The Bill of Rights) được soạn thảo năm 1688, được công bố ngày 13 tháng 2 năm 1689. Cho đến thế kỷ 17-18, các quyền này mới được công nhận bởi luật thực định. Chúng tôi cho rằng, giai đoạn quan trọng nhất trong tiến trình hình thành và phát triển của nhận thức triết học về quyền con người là giai đoạn Cận đại. Thời kỳ này kế thừa và bổ sung những tư tưởng về quyền con người của các giai đoạn trước; đây cũng là giai đoạn các luận thuyết về quyền cơ bản của con người được cụ thể hóa thành văn bản luật của Nhà nước. Như chúng ta đã biết, quyền cơ bản của con người là quyền được sống trong tự do, được tôn trọng nhân cách, lương tri và phẩm giá, được Nhà nước thừa nhận, pháp luật bảo đảm bằng các cơ chế hữu hiệu về quyền sống của một CON NGƯỜI. Vì thế, chủ nghĩa nhân đạo, triết lý về nhân phẩm và tôn vinh con người là nguồn gốc của sự hình thành và phát triển quyền con người. 1. Những tư tưởng đầu tiên về quyền con người trong triết học Cổ đại và Trung đại Trong các tác phẩm của mình, Aristote (384 TCN - 322 TCN) đã phân biệt giữa những gì thuộc “lẽ công bằng tự nhiên” và những gì là “công bằng bởi quy ước”. Nhiều cuộc hội thoại của Platon (khoảng 427 TCN - 347 TCN) đã đánh giá luận đề của những nhà ngụy biện về luật tự nhiên và sự đối lập tồn tại giữa tự nhiên (phusis) và luật lệ (nomos). Nhân vật Callicles trong các đối thoại của Platon cho rằng pháp luật được tạo nên nhằm bảo vệ kẻ yếu chống lại uy quyền của sức mạnh. Tương tự, nhà thông thái Hippias (khoảng 465 TCN-390 TCN) đối lập mối liên hệ tự nhiên giữa các thành viên trong một gia đình với luật lệ vốn áp đặt bởi sức mạnh của nhiều điều với tự nhiên. Trong tác phẩm “Các luật lệ” của Platon, nhân vật Athénien không thừa nhận tồn tại thứ luật lệ công bằng một cách tự nhiên, mà cho rằng luật lệ là một đối tượng của tranh cãi và thay đổi, mỗi thứ trong đó được thực hiện một cách nhân tạo . Sau khi nêu ra ý kiến của các nhà ngụy biện về chủ đề này, Aristote phân biệt ở ngay bên trong sự công bằng về mặt chính trị một uy lực mang tính tất nhiên. Bởi vì theo ông, uy lực này có cùng một giá trị ở khắp mọi nơi và không hề phụ thuộc vào việc quan điểm số đông chấp nhận hay từ chối giá trị này . Trong “Tu từ pháp”, Aristote đặt các luật lệ được thừa nhận bởi sự đồng thuận phổ biến với các luật lệ cá biệt chi phối trong mỗi thành bang . Triết học Hi Lạp sau đó được tiếp sức bởi những người theo chủ nghĩa khắc kỷ và Ciceron (106 TCN - 43 TCN). Cả ba dòng này ảnh hưởng tới các nhà luật học La Mã thời Đế chế, những người này phân biệt luật pháp thành bang (ius civile) chỉ dành riêng cho người có quy chế công dân, và thứ luật pháp chung cho mọi người được gọi là ius gentium (luật dành cho mọi người), nhưng cũng được gọi là ius naturale hay lex naturalis (luật tự nhiên). Thứ luật ius gentium này được quan án La Mã tạo nên nhằm mở rộng phạm vi của luật dành riêng cho công dân thành bang (ius proprium ipsius/civilitatis), cho phép những người không phải là công dân thành bang tiếp cận với các thiết chế để tiến hành các vụ việc liên quan đến cưới xin, hợp đồng, thừa kế, bồi thường thiệt hại... Cho nên, luật cho mọi người jus gentitum là một nhánh của luật La Mã dành cho những người không có quy chế công dân. Chủ nghĩa kinh viện thời Trung cổ thừa hưởng các triết lý được các nhà triết học Cổ đại đúc kết. Thomas Aquinas (1225-1274) phân biệt luật tự nhiên theo nghĩa hẹp, mà các luật lệ thực định không thể bỏ qua trong bất cứ trường hợp nào, và luật ius gentium – luật tự nhiên thứ cấp không có cùng một uy thế. Một số thiết chế, thân phận nô lệ và sở hữu có đặc tính này: Theo lẽ tự nhiên, mọi người đều tự do và bình đẳng, mọi vật với họ đều chung nhất, nhưng luật thực định có thể đẩy con người ta tới tình trạng nô lệ hoặc đặt ra các đặc quyền về sở hữu. Đối với các nhà tư tưởng thời Cổ đại và thời Trung cổ, luật tự nhiên không trao cho cá nhân các quyền cơ bản, vốn là đòi hỏi tiên quyết được những người sáng lập của nhân quyền và dân quyền nêu ra từ thế kỷ 17. Theo các quan niệm Cổ đại Hy Lạp - La Mã, tự do mang bản chất tập thể: chính thành bang tự do chứ không phải các thành viên của thành bang với tư cách cá nhân. Trong thành bang, các quyền chính trị là đặc quyền của một thiểu số các công dân. Đây là tàn tích của chế độ nô lệ, bị đánh giá là tương hợp với luận thuyết Cơ đốc giáo vốn cho rằng thứ tự do như thế là đủ. Nếu nhìn nhận dưới góc độ quan niệm hiện đại về quyền con người, vốn hướng tới bảo vệ phẩm giá của con người, thì chúng ta có thể tìm thấy những tuyên bố về phẩm giá con người đã có từ thời Cổ đại. Sự tương phản giữa loài vật hướng về mặt đất và “cái miệng cao cả được ban cho con người để ngắm nhìn bầu trời”(tức con người) đã xuất hiện trong những câu thơ đầu tiên của sử thi Metamorphose của nhà thơ La Mã Ovidius. Ông đã lấy cảm hứng từ các triết gia khắc kỷ, nhất là từ những bài giảng của triết gia Panetius (thế kỷ thứ 2 trước CN) được phát triển bởi Ciceron. Theo đó, con người được phân biệt với các loài vật khác bởi trí tuệ (celeritate mentis), chỉ duy nhất con người vươn lên bầu trời, con người khám phá ra luật lệ để điều khiển sự đều đặn của các tinh tú. Trong chuyên luận về nghĩa vụ (De officiis), Ciceron phân biệt hai loại sắc đẹp: vẻ duyên dáng (venustas) dành cho phụ nữ, và nhân phẩm (dignitas) của riêng người đàn ông . Bà con họ hàng với Chúa trời là một trong các sự thực khắc kỷ, người nô lệ cũng có tổ tiên là Chúa trời . Câu chuyện đầu tiên về Đấng sáng tạo trong sách “Sáng Thế” mô tả Thiên chúa làm ra con người theo hình ảnh của Người. Tiếp theo bằng một đoạn văn khác. Theo đó: “Đức chúa trời nặn ra con người từ đất sét, người thổi vào con người hơi thở cuộc sống và nhờ đó con người trở thành một sinh vật” . Từ hai câu chuyện về Đấng sáng tạo, nhà triết học thời Trung cổ Hugo de Sancto Victore (1096 - 1141) đã suy ra một hình thức của thuyết nhị nguyên đối lập con người tạo lên từ bùn đất (homo/homus), với bản thể vươn lên phía bầu trời (anthropos), và ông giải thích về 3 câu thơ trên của Ovidius. Bình luận câu chuyện về Đấng sáng tạo, các đức cha người Hi Lạp vào thế kỷ thứ 9 đã phân biệt con người với các loài động vật. Theo Saint Gréogoir de Nysse (sống khoảng 335-395), con người được đặt trên trái đất, tách biệt với giới tự nhiên của loài vật, con người tự phân biệt với các vật được sáng tạo ra khác bởi tư thế đứng thẳng và ngôn ngữ, cách diễn đạt bằng ký hiệu, bàn tay và luôn tự do để đạt tới điều này. Các thuộc tính này tương ứng với vị thế chúa tể muôn loài, và là những dấu hiệu của một phẩm cách đế vương, là cội nguồn để Chúa tạo ra con người, Chúa tạo tạo ra con người theo hình ảnh của chính mình và trao cho linh hồn một phẩm cách đế vương, cao đẹp. Trong bài thuyết giáo của John Chrysostom, tổng giám mục của Constantinopolis (sống khoảng 349-407), chứa đựng luận thuyết tương tự trong đó từ phẩm cách (dignitas) được thay bằng từ danh dự (honor). Các nhà nhân đạo chủ nghĩa đã tiếp tục phát triển các chủ đề liên quan đến phẩm cách con người để phản ứng chống lại chủ nghĩa bi quan của một số nhà tư tưởng tôn giáo. Cuốn sách viết bằng tiếng Latinh của nhà thơ Ý Francesco Petrarca (1304-1374) có hình thức của một đoạn đối thoại giữa hai nhân vật, trong đó một người mô tả sự khốn cùng của điều kiện con người, trong khi người kia biện luận về phẩm cách con người. Đoạn hội thoại là sự bác bỏ ngầm một văn bản được phổ biến rộng rãi trong giai đoạn cuối của Thời kỳ Trung cổ của Hồng y Lathaire, người sau trở thành giáo hoàng Innocent III, Petrarca triển khai chủ đề kinh thánh về việc con người được tạo ra theo hình ảnh của Đức Chúa: Ông dựa trên hai ý tưởng, một theo hướng nhân đạo dứt khoát và trình bày tỉ mỉ những điều huyền diệu của văn minh, sản phẩm của con người, còn ý tưởng còn lại hoàn toàn mang tính tôn giáo, con người có được phẩm cách từ khi sinh ra và được một thiên thần bảo vệ. Nếu quan niệm các quyền cơ bản có nguồn gốc trong triết học về quyền tự nhiên, thì chúng ta cần tìm kiếm các nguồn của nó vào giai đoạn muộn hơn của lịch sử triết học: giai đoạn Phục hưng. 2. Tư tưởng về quyền con người trong thời Phục hưng và Cải cách tôn giáo Di sản thời Cổ đại vẫn được lưu truyền và làm sâu sắc hơn trong suốt thời kỳ Trung cổ, nhưng các nhà nhân đạo chủ nghĩa thời kỳ Phục hưng mang tới cho nó một sức sống mới, trước hết thông qua việc khám phá lại các văn bản của Platon được những người Hi Lạp di cư mang tới Florence (Italia). Vào cuối thời kỳ Trung cổ, sức mạnh toàn năng của triết học Aristote được triết học của Thomas Aquinas củng cố bắt đầu bị dao động bởi triết học Phục hưng. Chúng ta có thể liệt kê nhiều triết gia của làn sóng Phục hưng thứ nhất: Hồng Y Bessarion (1400-1472), Marsilio Ficino (1433-1499), Pietro Pomponazzi (1462-1525) Mario Nizolius (1492-1540, Juan Luis Vives (1492-1540), Piere de la Ramé (1515-1572). Trong thời kỳ này, ca ngợi phẩm cách con người là một chủ đề cơ bản của chủ nghĩa nhân đạo (thế kỷ 15 và 16). Vào năm 1453 Giannozzo Manetti, công sứ tòa thành Florence tại Napoli đã công bố một tác phẩm mang tên: De dignitate et excellentia hominis (Bàn về nhân phẩm con người và điều tuyệt vời). Triết gia Ý thời Phục hưng Giovanni Pico della Mirandola (1463-1494), là tác giả của 2 cuốn sách có tiêu đề "Bàn về nhân phẩm con người" (1486, De hominis dignitate và Heptaplus (1489, bảy ngày sáng tạo). Trong tác phẩm De hominis dignitate, Pico della Mirandola chỉ rõ cách thức để con người gắng sánh kịp “nhân phẩm và vinh quang” của các thiên thần. Cuốn sách Heptaplus là bài thuyết trình về bảy ngày của Đấng sáng tạo. Trong đó mô tả con người chiếm một vị trí trung gian giữa các thiên thần và các vật được sáng tạo khác. Đồng thời, ông quan niệm rằng bằng việc sử dụng sáng suốt tự do của mình, con người có thể sánh ngang với các thiên thần nhưng nếu sử dụng sai tự do, con người sẽ bị hạ cấp xuống tình trạng tồi tệ hơn cả loài vật. Một nhân vật khác của tư tưởng nhân đạo là Carlos Bovillus (1475 - 1553), tác giả của tác phẩm có tựa đề “De sapiente” (Về người tinh khôn). Theo ông, con người giữ vị trí cao nhất trong tự nhiên: “Chỉ dành cho con người, tự nhiên đã trao tặng cho tư thế đứng thẳng để chiêm ngưỡng những điều tuyệt vời… Đầu của con người dĩ nhiên đĩnh đạc chiếm đỉnh cao nhất của cơ thể”. Và ông kết luận: “Các bản thể của tự nhiên tồn tại ba dạng: thực vật, động vật nửa đứng, hướng về một phía và bản thể là con người, luôn hướng lên cao và ở đỉnh cao nhất thế gian” . Nói cách khác, theo Bovillus, chức năng của trí não là tư duy. Bàn về nhân phẩm con người - De hominis dignitate của Pico della Mirandola được mở đầu dựa trên nền bài hát ca ngợi sự vĩ đại của con người, mượn lời thần Hermes Trismegistre: “Đó là phép mầu vĩ đại, Ôi ! Asceplio, đấy chính là con người”. Theo ông, chính Đấng tạo hóa làm nên con người. Và ông diễn giải: “Chỗ đứng của ngươi, khuôn mặt và tư chất của ngươi, ngươi trông nom, chinh phục và sở hữu. Tự nhiên bao quanh bởi những loài khác và bởi luật lệ được ngươi lập ra. Nhưng chính người thì không bị giới hạn bởi một biên giới nào, giữa đôi bàn tay mà ta đã đặt ngươi ở đó, ngươi tự định đoạt chính ngươi…” . Và “Con người được ôm chặt và hội tụ trong mình tất cả bản tính của thế giới toàn năng”, “thế giới được đặt tên bởi nhà tiên tri Moise - con người vĩ đại. Vì nếu con người là một thế giới nhỏ bé, thì tương tự thế giới là một con người vĩ đại… Toàn thể thế gian đều chứa đựng trong con người”. Kế tục Aristote, các nhà nhân đạo chủ nghĩa thời Phục hưng phân biệt bốn mức độ sự thật trong thế gian: tự nhiên thô ráp, cây cối có một “linh hồn nuôi dưỡng, loài động vật có năng lực cảm giác, và cao hơn trên cả ba loại đó, chiếm lĩnh Tạo hóa, là linh hồn lý tính của con người” . Theo Bovillus, loài người chứa đựng trong bản thân nó bốn thang bậc của Tạo hóa. Ba giai đoạn tuổi của đời người phục tùng cùng một sơ đồ: Trẻ sơ sinh được nuôi dưỡng như cỏ cây, trẻ con phù hợp với sự sống loài vật. Chỉ những thực thể có lý tính mới “sánh được với Con Người, người đàn ông văn minh” . Trong suốt thời kỳ Trung cổ với sự thống trị của Nhà thờ, nhân phẩm được chuyển dời từ con người sang tín đồ Cơ đốc. Theo đó, vì tội lỗi của Con người đầu tiên, nhân phẩm chỉ dành cho tín đồ Cơ đốc, được cứu rỗi bởi sự hiến sinh của chúa Jesus, nhân phẩm đế vương (regia dignitas) của người Cơ đốc giáo giống nhân phẩm đế vương của Chúa Trời. Các tác giả Cơ đốc giáo thừa nhận loại tồn tại thứ ba, được phú cho trí thông minh, giữa Chúa trời và con người, công nhận ưu thế của con người so với các thiên thần, không chỉ vì Nhập thế mà vì không văn bản nào nói rằng thiên thần được tạo ra từ hình ảnh của Chúa . Nguồn gốc triết học của luận thuyết về quyền con người còn là sự khám phá giá giá trị cá nhân. René Descartes (1596 – 1650) có một vai trò cơ bản trong việc tìm kiếm chủ thể của cái Tôi (với luận đề nổi tiếng: Tôi tư duy, tôi tồn tại - Cogito, ergo sum), ý thức được tư duy của mình sẽ giúp con người tới sự tồn tại. Tuy nhiên, triết học của Descartes không được xem như một nguồn trực tiếp của việc bảo vệ quyền con người bởi vì ông là nạn nhân của hai sự phong tỏa: Thứ nhất, ông tán thành vô điều kiện giáo lý cơ bản của Nhà thờ công giáo, công nhận sự tồn tại của một đức Chúa đấng sáng tạo mà thực chất là tất cả tinh thần, sự phân biệt cứng nhắc giữa linh hồn và thể xác, được ông đánh giá là cần thiết cho niềm tin vào sự tồn tại cá nhân. Thứ hai, ông ủng hộ chủ nghĩa bảo hoàng và thù nghịch với mọi đánh giá hay chỉ trích các thể chế chính trị đương thời của nước Pháp. Quan niệm của Descartes đóng kín trong một vòng tư duy luẩn quẩn (con người là chủ thế muôn loài, bị chi phối bởi luật lệ Trời định thông qua nhà vua). Quan niệm này rõ ràng tồn tại những hạn chế, và sẽ được Hobbes và Spinoza phê phán sau này. 3. Tư tưởng về quyền con người thời kỳ Khai sáng Vào thế kỷ 17 với trào lưu triết học Ánh sáng, mà chúng ta vẫn quen gọi là kỷ Ánh sáng, tư tưởng tự do tôn giáo bùng nổ thành phong trào và là tiền đề dẫn tới việc thừa nhận các quyền cơ bản của cá nhân. Tư tưởng mang tính cách mạng về quyền con người bắt đầu từ Hobbes và tiếp tục được Spinoza phát triển, với sự thừa nhận các quyền cá nhân không thể tước bỏ Thomas Hobbes (1588-1679) đưa ra các kết luận thông qua việc quan sát cách thức con người cư xử với nhau. Tư tưởng chính trị của ông dự trên nền chủ nghĩa bi quan và sự cam chịu. Khẳng định sự cần thiết của nền quân chủ mạnh, Hobbes thừa nhận một số quyền cơ bản của các thần dân của đấng quân vương. Theo Hobbes, Nhà nước được tạo nên từ một khế ước mà thông qua việc kí kết con người quyết định thoát ra khỏi trạng thái tự nhiên; những người ký kết không thể từ bỏ các quyền cơ bản không thể chuyển nhượng: quyền được tồn tại, quyền chống lại trật tự có thể gây nguy hại cho họ, quyền được sống sót vốn bao gồm những gì cần thiết để sống tốt, quyền không buộc tội chính mình cũng như buộc tội người khác mà việc đó khiến chúng ta rơi vào cảnh nguy khốn . Nhà nước quân chủ theo Hobbes là dạng cai trị tốt nhất và không phải là một Nhà nước toàn trị . Chính Hobbes là người đề ra những tiền đề của Nhà nước tự do . Cuộc đấu tranh của “mọi người chống lại mọi người” (bellum omnium in omnes) vốn đặc trưng tình trạng tự nhiên tiếp tục trong trạng thái dân sự (trạng thái có tổ chức) bị chi phối bởi các giá trị của thị trường” . Chủ nghĩa tự do của Hobbes không bàn tới đề tài tôn giáo. Tuy nhiên nhận thức được vấn đề liên quan đến diễn giải Kinh thánh mang tính thời sự vào thời đó, Hobbes tỏ rõ sự tiếc nuối rõ ràng cho quyền uy Giáo hoàng. Tại một Châu Âu chia rẽ bởi các tín ngưỡng cạnh tranh đối nghịch nhau, thì nhà vua có thẩm quyền xử lý các tranh cãi tôn giáo. Theo Hobbes, “trong Nhà nước cơ đốc giáo, nhà vua là mục sư tối cao, và chính người chịu trách nhiệm về bầy tôi của người” . Vai trò đứng đầu của Nhà thờ Anh giáo được trao cho nữ hoàng Anh, trong tư tưởng chính trị pháp lý của Hobbes, ông kịch liệt lên án vô thần, và gộp niềm tin tôn giáo vào một hạt nhân cơ bản là niềm tin vào Chúa Jesus. Theo ông, niềm tin đó không phải là vấn đề khoa học hay tranh cãi mà là uy quyền . Spinoza (1632-1677) là con trai của thương nhân Do thái người Amsterdam (Hà Lan). Ông bị trục xuất bởi chính quyền thành phố quê hương vào ngày 27 tháng 7 năm 1656. Nguyên nhân của sự khai trừ còn gây tranh cãi: phải chăng ông đã đưa ra những quan điểm dị giáo dựa trên diễn dịch kinh thánh, hay ông bị chê trách vì các quan hệ hữu hảo với những người cơ đốc ly khai, nhất là các tín đồ dòng Men-nô. Spinoza chịu ảnh hưởng bởi thầy dạy tiếng Latin của mình, cựu thầy tu từ Flandre là Franciscus Afinius van den Enden, vốn là người có tư tưởng tự do, vô thần. Tác phẩm duy nhất của Spinoza được xuất bản lúc ông còn sống là Tractatus theologicopoliticus - Chuyên luận về thần học - chính trị (1670), còn “Đạo đức học” (Ethica, ordine geometrico demonstrata) và “Chuyên luận chính trị” (Tractatus politicus) chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời. Trong tác phẩm “Đạo đức học” (Ethica, ordine geometrico demonstrata), Spinoza thiết lập nên một bản sắc giữa Chúa và tự nhiên (Deus sive natura), bao gồm mọi bản thể tồn tại. Chúa trời có hai thuộc tính: tư tưởng và tầm vóc. Cũng vậy, con người gồm tinh thần và thể xác, nhưng “nội dung của Tinh thần chính là Thể xác tồn tại và không gì khác” . Tinh thần không có bất kỳ sự tồn tại cá nhân nào, tinh thần tách rời thể xác, là thứ còn lại sau khi phá hủy thể xác và không phân biệt với Chúa trời . Như vậy, bản chất vô hình của Chúa Trời (thiên tính), sự phân biệt linh hồn-thể xác, sự bất tử của linh hồn với tư cách là thứ còn lại của cá nhân bị phủ nhận. Điều này trái ngược với các tiên đề cơ bản của thuyết Descartes cũng như giáo lý cơ đốc giáo. Việc xác định một chúa Trời hữu hình và tự nhiên cho thấy Spinoza là người theo chủ nghĩa duy vật, chủ trương thuyết phiếm thần , thậm chí là vô thần. Trong “Chuyên luận chính trị” (Tractatus politicus), Spinoza phân biệt quyền lực của “sức mạnh chủ quyền” điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng trong sự hòa hợp với sự thanh thản bên trong (chương XIX), “quyền tự nhiên” đối với tự do tư tưởng và tự do ngôn luận được đề cập trong chương tiếp theo. Theo đó, “thực tế, bất kỳ ai cũng được hưởng sự độc lập về mặt tư tưởng và đức tin, quyền cá nhân này không bao giờ bị tước bỏ trái với ý muốn của người đó” , và “không ai có thể làm mất đi tự do đánh giá và tự do suy nghĩ về vấn đề mà anh ta muốn và mọi cá nhân căn cứ vào quyền tự nhiên cao cả, là chủ nhân của suy nghĩ của mình” . Spinoza đồng thời trình bày sự phân biệt giữa tự do tư tưởng và tôn giáo, sức mạnh của uy quyền công, có thể hạn chế “quyền hành động” của mỗi thành viên của cộng đồng . Có thể nói Spinoza là cha đẻ của chủ nghĩa cá nhân hiện đại và việc thừa nhận các quyền cơ bản không thể tước bỏ. Điều này thể hiện rõ ràng qua quan niệm của Spinoza về tự do tôn giáo - vốn là vấn đề tranh cãi nhất lúc đương thời, và là quyền tự do căn bản của con người. Như vậy có thể nói tư tưởng của Spinoza vượt trước thời đại. John Locke (1632-1704) vào cuối đời đã công bố hai tác phẩm về lý thuyết chính trị: “Hai chuyên luận về Chính phủ dân sự” (Two Treatises on Civil Government, xuất bản lần đầu vào năm 1690). Chuyên khảo đầu tiên (An Essay concerning certain false prinicples) nhằm chống lại Patriarcha của Sir Robert Filmer (xuất bản lần đầu vào năm 1680). Cuốn sách thứ hai có tựa đề: An Essay concerning the true original extent of Civil Government. Tư tưởng của Locke chịu ảnh hưởng nhiều bởi Hobbes. Hai chuyên luận của ông được dịch ra tiếng Pháp vào năm 1691 tại Amsterdam và nó có ảnh hưởng lớn đến Voltaire và Montesquieu trong việc xây dựng hệ thống học thuyết của hai triết gia này. Lý tưởng của Locke là một nền quân chủ ôn hòa, được kiểm soát bởi dân chúng và đảm bảo quyền tự do cá nhân của công dân, đặc biệt là quyền sở hữu. Quyền sở hữu là đối tượng của một thứ quyền tự nhiên không cần thỏa thuận, quyền này tồn tại trước khi có khế ước xã hội và được bảo đảm để chống lại các can thiệp của quyền lực chính trị . Như vậy, học thuyết của Locke không thừa nhận truyền thống luật tự nhiên “cổ điển” của Thomas Aquinas. Và đây là điểm cho thấy tầm quan trọng của John Locke trong lịch sử quyền con người. Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) là người tiên phong của triết học về quyền con người . Ông mượn một số ý tưởng của Hobbes để xây dựng ý thuyết về khế ước xã hội. Thông qua khái niệm về “trạng thái ban sơ” (état de nature), ông có một quan niệm hoàn toàn đối lập với triết học Anh: Con người sinh ra là tử tế và hòa bình, bản tính của con người thúc đẩy con người sống trong xã hội, và chính xã hội làm tha hóa con người . Quyền năng bao trùm mà Rousseau thừa nhận cho “ý chí chung” có điểm tương đồng với các biểu hiện của “sức mạnh chủ quyền” ở Hobbes và Spinoza. Được xem như học trò của Rousseau, Immanuel Kant (1724-1804) là nhà tư tưởng quan trọng nhất của triết học kỷ Ánh sáng. Ông thừa nhận sự tồn tại của Chúa và sự bất tử của linh hồn nhưng không thừa nhận mọi mưu toan chứng minh cho những gì ông tin chắc về sự thật căn bản của tinh thần. Về điểm này Kant gần với Decartes. Kant là một trong những người sáng lập quan trọng nhất của học thuyết triết học về các quyền cơ bản và ông đặt học thuyết này trong mối quan hệ với tính bất khả xâm phạm của nhân phẩm con người. Theo Kant, mệnh lệnh thực tiễn là những gì: “hành động tới mức anh đối xử với con người cũng như đối với bản thân anh và mọi cá nhân khác, luôn cùng lúc, giống như một mục tiêu chứ không bao giờ là một phương tiện” . Ý tưởng này sẽ được Kant nhắc lại một cách ngắn gọn trong tác phẩm “Phê phán lý tính thực tiễn” với tựa đề “luật cơ bản của lý tính thực tiễn” : “Hãy hành xử làm sao cho phương châm của ý chí anh có thể cùng lúc có giá trị như một nguyên tắc của luật pháp phổ biến” . Chúng ta có thể thấy sự giống nhau giữa của nguyên tắc vàng này với điều răn cơ bản của Chúa Jesus. Tuy nhiên, tác phẩm “Siêu hình của các phong tục và xung đột năng lực” thể hiện rõ nét hơn đóng góp của triết học Kant đối với triết lý về nhân phẩm con người. Sự tôn trọng (Achtung), mà chúng ta phải biểu hiện và chứng tỏ đối với người khác là nền tảng cho “phương châm về sự tiết chế, thông qua nhân phẩm tồn tại ở một người khác, là sự đánh giá của chính chúng ta về bản thân mình” . Kant đi xa hơn khi khẳng định phẩm cách và nhân phẩm con người: “Bản thân con người chính là nhân phẩm, thực tế con người không thể bị sử dụng bởi một ai đó đơn giản như một phương tiện, mà phải luôn được đối xử như một mục tiêu, và bằng cái đó mà tạo nên nhân phẩm của con người (nhân cách của người đó), nhờ đó con người vượt cao hơn tất cả các bản thể khác trên thế gian” . (“Và phẩm cách của anh là chính đáng (về nhân phẩm) « und darin besteht eben seine Würde (die Persönlichkeit)” . Kết luận Qua những phân tích trên, có thể khẳng định rằng tư tưởng, quan niệm triết học về quyền con người được ươm mầm từ thời Cổ đại, được nuôi dưỡng và bổ sung trong suốt chiều dài lịch sử và trở thành học thuyết vào thời kỳ Phục hưng và kỷ Ánh sáng. Tất cả tạo thành tiền đề và nền tảng dẫn đến việc thừa nhận các “quyền căn bản” bởi pháp luật thực định vào thế kỷ 17 thông qua Tuyên ngôn về các quyền của Anh 1688, thế kỷ 18 với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp... và Emmamuel Kant là triết gia tiêu biểu nhất trong việc tạo lập nền tảng triết học về quyền con người. Ông tiếp nhận một phần di sản của truyền thống luật tự nhiên khách thể, phát triển thành học thuyết về quyền con người-nhân phẩm con người. Dĩ nhiên, Kant vẫn trung thành với những phân biệt đối xử phổ biến của thời đại ông như giữa đàn ông và phụ nữ, cũng như những cấm đoán tình dục mang tính truyền thống. Tuy nhiên, có thể kết luận rằng Kant là người thiết lập nên quan niệm về quyền con người với tư cách là một luận thuyết có hệ thống, triết học Kant là nền tảng lý luận vững chắc để bảo vệ quyền cá nhân và mối liện hệ của các quyền này với tính không thể xâm phạm của nhân phẩm con người. Như vậy, vào thế kỷ 17, luận thuyết về quyền tự nhiên có được diện mạo mới một cách triệt để với Hobbes và Spinoza. Trong khi từ thời Cổ đại và theo học thuyết được xác lập bởi Thomas Aquinas, vốn được nhiều người tán thành như Grotius và Pufendorf, quyền tự nhiên là hệ thống “quyền khách thể” vượt cao hơn luật thực định (tức các quyền được ban phát), Hobbes và Spinoza làm cho quyền tự nhiên ngả về phía các quyền chủ thể . Tồn tại một số quyền cá nhân không thể tước bỏ và có thể làm tan vỡ các thể chế của luật thực định. Như thế nền tảng triết học ban đầu của quyền con người đã được thiết lập. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Gabriel Albiac (1994), Les sources marranes du spinozisme, Nxb. PUF. 2. Charles Appuhn (1927), Spinoza, Paris, Nxb. André Delpeuch. 3. Denys De Bechillon, Retour sur la nature. Critique d’une idée classique du droit naturel, tap chi Images, 1993, tr. 563-587. 4. Lefort Claude (1984), Les droits de l’homme en question, tap chi Interdisciplinaire des sciences juridiques, số 13, 1984, tr.11-48. 5. Cassier Ernst (1966), La philosophie des Lumières, dịch từ tiếng Đức và giới thiệu bởi Pierre Quillet, Nxb. Fayard. 6. Bloch Ernst, Droit naturel et dignité humaine, bản dịch từ tiếng Đức của Denis Authier và Jean Lacoste, Paris, Nxb. Payot, 1976. 7. Kant, Nền tảng siêu hình của các tập quán (1785) bản tiếng Pháp, Tuyển tập các tác phẩm triết học, Nxb. de la Pleiade, tập 2, 1984. 8. Brunschvicg Léon (1951), Spinoza et ses contemporains, Nxb. PUF. 9. Israel Jonathan Ivrin (2005), Les Lumières radicales, La philosophie, Spinoza et la naissance de la modernité (1650-1750), bản dịch tiếng Pháp của Paulina Hugues, Charlottes Nordmann va Jerome Rosanvallon, Nxb. Amsterdam, Paris. 10. Suart Hampsphire (2005), Spinoza and Spinozm, Nxb. Clarendon Press, Oxford. 11. Emmanuel Kant, Nhân luân siêu hình học (Die Metaphysik der Sitten), I: Học thuyết toàn xưng về luật pháp, tập III, tr. 523-536. Emmnuel Kant toàn tập, tập III, Bản dịch tiếng Pháp, nxb. Pléiade, 1986. 12. JJ. Rousseau, Du contrat social, chương II, tập III, tr. 288. Bài viết về Abbe de St. Piere, tập III. 13. Delbos Victor (2005), Le spinozisme, Nxb. Vrin.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

néant

...Đôi khi ta phải nói chia tay với người ta yêu dù không muốn. Dù điều đó không có nghĩa là ta bớt yêu hay bớt quan tâm. Đôi khi chia tay là cách đau đớn nhất để nói rằng tôi yêu em...

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Như sự dịu dàng của em...

Jun là người nói nhiều: Với những vấn đề anh quan tâm anh có thể nói liên tục mấy tiếng không ngưng nghỉ, khổ cái anh quan tâm đến rất nhiều thứ, toàn những chuyện linh tinh.
Jun là một người thích kể chuyện cười, anh có thể kể vô vàn thứ chuyện cười trào phúng Đông Tây kim cổ, kể cả thứ trào lộng theo phong cách của tờ "Con vịt buộc" (canard enchainé)
Là người có vẻ ồn ào nhưng Jun lại thích chơi với những cô gái ít nói và có nét gì đó buồn bã.

Anh có những sở thích xem ra là kỳ quặc với một người Việt điển hình: anh thích làm mọi thứ một mình: Đọc sách, xem phim, đi du lịch, thể dục thể thao, đi dạo... Chỉ có một điểm bình thường là anh không thích ăn một mình. Anh không thích những chốn ồn ào ầm ĩ: mỗi lần anh theo bọn bạn đi bar về là anh sẽ ốm ít nhất một ngày, không phải vì uống nhiều mà vì anh dị ứng với thứ âm thanh chát chúa trong các quán bar sinh viên.

Quand j'étais avec elle, en se promenant ensemble on se bavardait de n'importe quoi. En fait, j'ai parlé beaucoup et elle était en silence la plupart de temps et se contentait de me regarder.
Elle me prêtait toujours une oreille attentive et m'affirmait:
"Je suis sûre que tu deviendras quelqu’un de magnifique, que tu auras un brillant avenir. Il y a quelque chose de si beau en toi". Elle était sincère. Et c'était la première fille à me faire un compliment de ce genre.

Enfin, j'aurai bientôt 30 ans sans devenir une personne spéciale, un vagabond sans l'avenir. J'ai fait mal des gens et en ce faisant je me fait mal aussi.

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

Đêm...

Đêm khuy thanh vắng, cố mãi không ngủ được đành dậy lôi mực khô mang từ nhà ra nướng để uống với bia. Khổ nỗi nhà cồn không có, lò vi sóng cũng không thôi đành thử nướng bằng bếp điện. Lần đầu tiên nướng mực bằng bếp điện may mắn là thành công. Chút hương vị quê nhà giữa đêm sâu ở một nơi xa xôi với nhiều người nhưng đã nên thân thuộc với mình lâu nay.
Cuộc sống buồn tẻ, cô đơn nhưng dường như nó trở thành một phần máu thịt của mình. Bao giờ cho hết những ngày nhạt nhẽo này đây?
Mình chỉ thích uống rượu một mình, đi dạo một mình, đi ăn một mình và thậm chí đi xem phim cũng chủ yếu một mình...Một so' người bảo mình dở hơi lập dị, ngoài kia cuộc sống với bao nhiệt tình hăm hở đang chờ đón hãy tận hưởng đi chứ.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

petits mots...

A côté de mes proches trois semaines de vacances au Vietnam se sont passées si vite!
ça fait si longtemps je n'écris aucun mot, alors qu'il y a plein de chose qui s'emprisonne au fond moi.
Je me sens vide!


Y'a pas d'amour sans patiente
Histoire sans y croire
D'un amour sans le vouloir

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011

ça me faut pleurer quand je pense à toi!

ça me fait pleure quand je pense à toi!

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

Nụ cười

Nếu một người xa tận chân trời chết đi, vì sao lại phải gánh chịu nỗi khổ mà họ không thể gánh chịu.

Hãy nhớ bức tranh ấy, khi bạn xem đến cuối cùng, con tim đã tĩnh lặng, đã ngừng đập.
Tôi đã hiểu điều J muốn nói với tôi: Từng câu từng chữ đều trong đó

Khi đọc, khóc từ đầu đến cuối. Cuối cùng phát hiện ra nước mắt đã được ánh nắng vàng cam mang đi hết...

Hãy mang tôi đi, đi thật xa. Một ngày khi tôi thấy thiên đường, tôi sẽ nói, sau năm 2010, mỗi ngày qua đi tôi đều chúc phúc cho vài người, vài người lương thiện, những người hiểu ý nghĩa của tình yêu, tha thứ cho mọi thứ, bao dung với mọi thứ,
chỉ có điều trước đây không nên làm tổn thương anh...

Món quà anh tặng cho tôi, tôi lưu giữ tới tận những khoảnh khắc cuối của cuộc đời, nhưng anh không hề biết ý nghĩa của nó. Nhưng trong những khi bất hạnh và đau khổ, món quà ấy làm tôi hồi sinh, giải thoát cho tôi. Chờ đợi, chỉ vì một bức thư trả lời

Tôi rất rất cảm động...

F.

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

Goodbye by Air Supply

I can see the pain living in your eyes
And I know how hard you try
You deserve to have much more
I can feel your heart and I simpathize
And I'll never criticize
All you've ever meant to my life


I don't want to let you down
I don't want to lead you on
i don't want to hold you back
From where you might belong


You would never ask me why
My heart is so disguised
I just can't live a lie anymore
I would rather hurt myself
Than to ever make you cry
There's nothing left to say but goodbye


You deserve the chance at the kind of love
I'm not sure i'm worthy of
Losing you is painful to me


I don't want to let you down
I don't want to lead you on
i don't want to hold you back
From where you might belong


You would never ask me why
My heart is so disguised
I just can't live a lie anymore
I would rather hurt myself
Than to ever make you cry
There's nothing left to say but goodbye


You would never ask me why
My heart is so disguised
I just can't live a lie anymore
I would rather hurt myself
Than to ever make you cry
There's nothing left to try
Though it's gonna hurt us both
There's no other way than to say goodbye

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009

Yuki no Hana -Phiêu tuyết- Tuyết bay

Mika Nakashima 中島美嘉, Nakashima Mika sinh năm 1983 tại Kagoshima, Kyushu (Tiếng Việt quê ta phiên âm là Cửu Châu), Nhật
Yuki No Hana là một trong những bài hát thành công nhất của cô, được hát lại bởi ca sĩ Đại Hàn Hyo Shin Park làm nhạc nền cho phim Minhada Saranghad (Sorry, I Love You). Được dân Nhật lùn rất thích và hay chọn khi đi hát Karaoke.

Tải ở đây :
http://www.4shared.com/get/114627155/c6ea72e7/Yuki_no_Hana.html

nobita kage wo hodou ni narabe
yuuyami no naka wo kimi to aruiteru
te wo tsunaide itsumademo zutto
soba ni ireta nara nakechau kurai

kaze ga tsumetaku natte fuyu no nioi ga shita
sorosoro kono machi ni kimi to chikadzukeru kisetsu ga kuru

kotoshi, saisho no yuki no hana wo
futari yorisotte
nagamete iru kono toki ni
shiawase ga afuredasu


amae toka yowasa ja nai
tada, kimi wo ai shiteru kokoro kara sou omotta

kimi ga iru to donna koto demo
norikireru you na kimochi ni natteru
konna hibi ga itsumademo kitto
tsudzuiteku koto wo inotte iru yo

kaze ga mado wo yurashita yoru wa yuriokoshite
donna kanashii koto mo
boku ga egao e to kaete ageru

maiochite kita yuki no hana ga
mado no soto zutto
furiyamu koto wo shirazu ni
bokura no machi wo someru
dareka no tame ni nanika wo shitai to omoeru no ga
ai to iu koto wo shitta

moshi, kimi wo shinatta to shita nara
hoshi ni natte kimi wo terasu darou
egao mo namida ni nureteru yoru mo
itsumo itsu demo soba ni iru yo

kotoshi, saisho no yuki no hana wo
futari yorisotte
nagamete iru kono toki ni
shiawase ga afuredasu

amae toka yowasa ja nai tada, kimi to zutto
kono mama issho ni itai sunao ni sou omoeru
kono machi ni furitsumotteku masshiro na yuki no hana
futari no mune ni sotto omoide wo egaku yo
kore kara mo kimi to zutto...

Một vùng trời sầu muộn
Tuyết đang bay lả tả
Dòng suối nóng Izu này
Chính là những mong nhớ cô đơn của em
Một chiếc lá chầm chậm rơi
Chính là giống như kết cục của anh và em
Dòng suối nóng Izu này
Trước đây tràn đầy sự ấm áp
Bàn tay anh trước đây ôm vai em
thì thầm rằng sẽ yêu em mãi mãi
Những bông hoa tuyết giống như pháo hoa bắn tung
Tự do bay lả tả trong trời đất
Một cách thỏa sức trong một sát na
Sao hiện tại chỉ còn có gió thổi làm rối tóc em?
Xé ra những vết sẹo trong kí ức của em
Nhượng vãng sự tượng vụ khí mạn mạn địa chưng phát – khiến những chuyện cũ như sương mù chầm chậm dâng lên
Khiến em hiểu vì sao mình kêu lên mà không được
Vì sao những giọt lệ của em có thể rơi xuống không ngừng?
Hình ảnh anh hôn lên má em hồi trước lướt qua (suy nghĩ của em)
Toàn bộ những chuyện đúng sai trong khoảnh khắc sụp đổ
Vốn dĩ anh đã lấy đi 3 mùa ấm áp thu xuân hạ trong cuộc đời em
Ngay cả những gì (em) đạt được trong quá khứ cũng chỉ lơ lửng trong trong mộng
Vốn dĩ những điều em tìm kiếm lại là nỗi bận tâm khó dứt của chính em
Dòng suối nóng Izu này là sự trừng phạt của trời
Nếu biết trước kết cục liệu chúng ta vẫn có thể yêu nhau không?
Em ko đoán được câu trả lời của anh
Lời hẹn thề giữa băng tuyết là chân tình sao?
Tại sao lúc này mọi thứ vẫn không lưu lại?
Giờ chỉ có gió thổi làm rối tóc em
Tuyết chôn vùi những vết sẹo của kí ức
Những chuyện cũ tựa như sương mù chầm chậm dâng lên
Đau đến tê tái thì có lẽ mới có thể thích nghi
Và có thể khiến những giọt lệ của em không ngừng tẩy sạch
Tẩy sạch đôi má mà anh từng hôn lên
Em đưa bàn tay ra như muốn băng tuyết xuất hiện
Dường như trong khoảnh khắc đó hoa tuyết rơi xuống
Ghi lại câu chuyện tình giữa anh và em

Une ombre d'homme recouvre la chaussée
Tu marches dans le crépuscule
Toujours tenant ma main
Si je suis à tes côtés, il m'est impossible de pleurer
Les vents deviennent froids
Et je peux sentir l'hiver
Progressivement, dans cette ville
Les saisons changeront autant que tu les approcheras

Cette année la première fleur de neige fleurit
Comme nous l'avons dessiné
Comme je regarde sur ce temps
La joie qui m'envahit
Si nous dépendons l'un de l'autre, nous ne sommes pas faibles
Je t'aime simplement
Ces pensées sont sincères en mon coeur

Qu'importe ce qui arrive, du moment que je suis avec toi
J'ai le sentiment que rien ne peut m'arriver
Je sais que nous pouvons avoir cette vie sage pour toujours
Alors je prie pour que cela continue ainsi

Le vent secoue la fenêtre
Et la nuit je me réveille frissonnante
Je prendrai le risque sans aucune peine
En recouvrant mon visage d'un sourire

Les fleurs de neige ne virevoltent plus
Devant la fenêtre
Bien que je ne sâche pas pourquoi elles se sont arrêtées de tomber
Nous colorerons cette ville
Nous penserons alors
"pour qui faisons-nous ça?"
Mais nous savons que c'est parce que nous connaissons l'amour

Si tu te perds
Je deviendrai une étoile, et j'éclairerai ton chemin
La nuit, quand tu souris, ou t'innondes de larmes
Je serai à tes côtés, encore et toujours

Cette année la première fleur de neige fleurit
Comme nous l'avons dessiné
Comme je regarde sur ce temps
La joie qui m'envahit
Si nous dépendons l'un de l'autre, nous ne sommes pas faibles
C'est simple, je veux juste être
Avec toi, ainsi, pour toujours
Alors je pourrais ressentir ta douceur

Pûres et blanches fleurs de neige
Saupoudrant la ville
Dans nos coeurs, nous dessinons rapidement nos sentiments
Je serai avec toi, pour toujours, comme à cet instant...

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009

Cloche à vent

Thời đó em thi thoảng đến nhà anh sau những buổi làm thêm ngoài giờ học. Có lẽ tại anh thuê nhà tại một nơi hẻo lánh của thành phố, nơi toàn các ông bà cụ già về hưu sống, cả tiếng đồng hồ mới có một chuyến xe bus đi qua, và có lẽ một phần vì em bận rộn với việc học hành và công việc nên thoảng hoặc mới tới nhà anh một lúc, mà rồi chúng mình lại cùng nhau đi dạo trong khu rừng nằm dọc sườn đồi gần nhà.

Nhà của mấy thằng con trai nên đồ đạc bừa bộn, lần nào đến em cũng năn nỉ dọn nhà nhưng mà rồi thì anh vẫn không đồng ý. Em chê nhà anh chẳng có đồ đạc gì ngoài mấy cái máy tính của anh và bạn, em bảo nên trồng một ít cây hay hoa cho cuộc sống thêm phần sinh động, anh hồn nhiên bảo quanh nha anh là cả một rừng cây và hoa lá rồi còn gì, thêm nữa thi thoảng được gặp em với nụ cười như hoa mùa xuân nên anh nghĩ chằng cần thêm hoa lá. Một lầni em mang đến cho anh một chiếc chuông gió, bảo là mua được hồi học ở Đông Kinh và bảo anh sống trên đồi nhiều gió sẽ làm chiếc chuông kêu luôn luôn và mỗi khi chuông kêu anh có thể nhớ tới em một chút.

Chuông gió mang đến hơi ấm và âm vang của mùa xuân, hình như có lần em bảo thế. Mà rồi thì mùa xuân vẫn cứ về biết bao lần mà không cần đợi tiếng chuông gió treo nơi cửa. Mùa xuân về và em về đâu anh không còn biết nữa.

Anh ngồi trong căn phòng đơn sơ, nhìn chiếc chuông gió mà nhớ đến em.

Rồi thì đến anh cũng rời khỏi căn phòng đó. Đồ đạc được chuyển đi hết trừ chiếc chuông gió anh quyết định để lại. Gắn ký ức về em với chiếc chuông gió ở một căn phòng nhỏ xa lạ dễ hơn trong trái tim vốn hay nhạy cảm và lắm hồi ức.


Mấy năm kể từ ngày chuyển đi anh không quay lại ngôi nhà cũ có chiếc chuông gió của em. Mà chắc người thuê nhà đến sau đã gỡ nó ra từ lâu rồi, có thể lắm, cũng như anh vẫn thi thoảng nhớ em, dù ít thôi.

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

You can't say

You can say, old things must end
You can smile and even pretend
And you can turn and walk away so easily
But you can't say, you don't love me anymore.
You can dream of what might have been
You can cry for what won't pass again
And you can say there's every reason you should leave
But you can't say, you don't love me anymore.
You can say I'm right you're wrong
You can make your plans to find somebody else
But I can't believe you can carry on
We know what should be said
But you can't find the words instead.
You say, old things must end
You can smile and even pretend
And you can turn and say you're leaving me for good
But you can't say, you don't love me anymore.
And you can turn and say you're leaving me for good
But you can't say, you don't love me
First just say, you don't love me anymore...


Em cứ ước ao những điều có thể đãtrở thành sự thật
Nước mắt cứ chảy va chẳng thể nào quay ngược thời gian.
Có thể thanh minh và vờ ngoảnh mặt quay lưng.

Nhưng đừng nói em ko còn yêu anh nữa

EM đúng tôi sai, cũng được thôi, tôi không bào chữa

Em có thể quay đi và kiếm một anh chàng

Nhưng tôii tin rằng tâm hồn em sẽ mãi lang thang
....

Em có thể nói những tháng năm xưa đã xa xôi.
Em cứ mỉm cười và vờ như không biết.
Em cứ quay lưng và nói lời tiễn biệt.
Nhẹ nhàng như chiếc lá bay

Nhẹ nhàng như chiếc lá bay thôi.
Nhưng không thể nói em không còn yêu anh nữa

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

Quelqu’un m’a demandé si je t’aime encore et si je t’attends souvent.


Je n’ose pas répondre cette question si difficile. J’ai dit : C’est une question sans réponse.

C’est vrai que je pense souvent à toi. C’est vrai que je garde toujours des souvenirs de ta part. Même si tu les as oublié, peut-être.
Je ne te dis pas que je t’aime, car cela te donnera des soucis. En fait, l’amour ou l’amitié, ce n’est qu’une appellation pour une relation humaine. Alors que le plus important c’est si on donne à cette relation une telle ou telle signification.

Je ne t’oublie jamais, car tu mérite mon affectation. Je n’ai rien à ta donner sauf ma compassion.
Tu t’assure qu’on est ami éternel jusqu’au dernier moment de ta vie et qu’il n’y a que la mort qui pourra nous séparer notre amitié.
Une fois, je te dis que amitié éternelle est plus précieuse qu’un amour. Parce que l’amour pourra être séparé par le divorce. Par contre, l’amitié éternelle existe pour jamais.

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2009

Hữu tâm nhân, tựu tượng bích lô lí phác thiểm phác thiểm đích hỏa miêu, viễn viễn khán trứ đô giác đắc ôn noãn.

Người có tâm, thật giống như cái lò sưởi trong tường đang bập bùng bập bùng những ngọn lửa, đứng ngắm từ xa đã cảm nhận được sự ấm áp

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009

Tinh thàn cua nguoi TT

VViết bài này nhân dịp đội tuyển Bắc Hàn dành được suốt tham dự wc 2010.

Tinh thần của người Triều Tiên.

Bắc Hàn là một quốc gia bí ẩn, và hẳn nhiều trong đầu của đa số chúng ta là hình ảnh một đất nước bị cấm vận và khó khăn đủ bề, không khác mấy VN thời kỳ trước Đổi mới.

Ngoài những công trình xây dựng to lớn tại Bình Nhưỡng được quy hoạch một cách bài bản và quy cũ thì người ta không biết gì nhiều về đất nước này. Cũng dễ hiểu, hàng năm chỉ có khoảng vài nghìn khách du lịch phương Tây được cấp Visa du lịch nước này.

Sau 44 tham dự vòng chung kết wc, bóng đá BH trở lại với đấu trường thế giới bằng suốt tham dự vòng chung kết năm 2010 tổ chức tại Nam Phi.

Những ai ham hiểu lịch sử bóng đá thế giới đều biết tại vòng chung kết năm 1966 tổ chức tại Anh, đội tuyển TT đã làm nên kỳ tích khi đánh bại Italia và sau đó dẫn trước Bồ Đào Nha với tỉ số 3.0 trước khi bị gỡ lại 5.3. Những người hùng của đội BTT năm ấy với ký ức ngọt ngào được gợi lại trong bộ phim tài liệu của Anh mang tên « the match of life ».

Việc đội bóng Bắc Á này dành được vé tham dự wc 2010 khiến nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi nhiều năm nay BTT chỉ được biết đến với đội tuyển bóng đã nữ ở đẳng cấp thế giới.
Thành công này cũng khiến những người làm bóng đá của các quốc gia khác phải nhìn lại cách làm bóng đá của mình, và hơn hết là cách khơi dậy quyết tâm và lòng tự hào của mỗi cầu thủ khi khoác trên mình bộ đồ tuyển thủ quốc gia.
Tờ Tin tức Quảng Châu của TQ đặt câu hỏi ngay trang nhất « Tại sao chúng ta thất bại trong khi CHDCND TT thành công, dù có cơ sở vật chất và nguồn tài chính dồi dào nhưng chúng ta lại thua kém người BTT ở phương diện ý chí, lòng dũng cảm và sự quyết tâm ».
Báo chí Nam Hàn cũng hồ hởi với việc lần đầu tiên trong lịch sử có 2 đội Triều Tiên cùng tham dự wc. Tớ Jooong Ang nhật báo ca ngợi huấn luyện viên Kim Jong Hun đã đưa đội tuyển của ông vào vòng chung kết « Đội tuyển xếp hang 106 thế giới, đã cho thấy phẩm chất của họ khi đối đầu với A rap xê út . Nhắc lại rằng BTT ghi được 7 bàn và chỉ để lọt lưới 8 bàn trong 8 trận ».
Để đến được vòng chung kết 2010 BTT đã gặp Hàn Quốc tới 4 lần, trong đó 2 lần trên sân Soeul và 2 lần trên sân trung lập Thượng Hải (TT từ chối tiếp đội HQ trên sân nhà). Và chỉ để thua đúng 1 trận. Trong trận này BTT đã ghi bàn trước sau khi số 12 đánh đầu qua vạch vôi rõ ràng nhưng trọng tài không nhìn thấy.

Trong đội hình của BTT có nhiều cầu thủ thi đấu ở nước ngoài, bao gồm các cầu thủ đang thi đấu tại giải vô địch Nhật Bản, Nga và cả Hàn Quốc. Trong đó tiền đạo số 12 Jong tae se đang chơi tại giải vô địch Nhật J Ligue. Anh được mệnh danh là « Ronaldo Bắc TT » với sức mạnh thể lực vượt trội và kỹ thuật không chê vào đâu được.
Các cầu thủ đang chơi tại Nhật bản đều là những người sinh ra và trưởng thành tại Nhật, thuộc thế hệ thứ 3, 4 có quyền chọn quốc tịch Nhật hay Hàn Quốc nhưng vẫn chọn đá cho đội BH.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2009

Thái độ của người Trung Quốc đối với quá khứ

Tác giả: Pierre Ryckmans

Pierre Ryckmans, tác giả chuyên viết về văn hóa và chính trị Trung Quốc với bút danh Simon Leys, giới thiệu bài viết này lần đầu tiên với cái tên “bài diễn văn Morrison số 47” vào ngày 16 tháng 6 năm 1986. Phiên bản này đã được xuất bản trước đó trên “Báo lịch sử miền viễn Đông” (sau là “Lịch sử Đông Á”) vào năm 1989. Chúng tôi tái bản bài viết ở đây để xem xét di sản “Bắc Kinh, thành phố vô hình”, cũng như là một sự bổ sung vào bộ tư liệu về đề tài Hán học hiện đại.

(Lời người biên tập)

Le Tibre seul, qui vers la mer s'enfuit,
Reste de Rome. O mondaine inconstance!
Ce qui est ferme, est par le temps detruit,
Et ce qui fuit, au temps fait résistance.

Trung Hoa là nền văn mình cổ xưa nhất còn tồn tại trên trái đất. Và sự tiếp nối độc nhất như vậy hẳn nhiên bao hàm mối quan hệ phức tạp của một dân tộc với quá khứ của họ. Thực chất sâu xa của sự bền vững đáng kinh ngạc về văn hóa này dường như là một nghịch lý: đó là việc nuôi dưỡng những giá trị đạo đức và tâm linh thuộc về con người cổ đại có vẻ thường được gắn với sự thờ ơ hay bàng quan đối với những di sản vật chất của quá khứ (thậm chí là ngay cả trong thời kì những tín ngưỡng lâu đời bị đả phá một cách mạnh mẽ nhất). (Dù bản thân sự tiếp nối về tinh thần bất chấp hay nhờ có sự tàn phá một phần những tư liệu vật chất của truyền thống là một vấn đề khác, nó cũng sẽ được đề cập một cách sơ lược sau đây)???

Bài viết này nhằm khám phá sơ bộ hiện tượng gìn giữ thế giới tinh thần đồng thời với việc tàn phá các yếu tố vật chất đã được quan sát trong suốt tiến trình lịch sử nền văn hóa Trung Hoa. Chủ đề thì vô cùng, vì thế ở đây tôi sẽ chỉ vạch ra một vài định hướng và đề tài cho những nghiên cứu sâu hơn. Ở mức độ này, tôi chỉ đơn thuần định hình vấn đề chứ không nhằm hướng tới việc đưa ra một giải pháp cụ thể nào.

Sự hiện hữu của giá trị tinh thần và thiếu vắng các yếu tố vật chất gắn với quá khứ ở Trung Quốc.

Trong cuốn tự truyện của mình, Carl-Gustav Jung đã diễn giải lý do vì sao ở cái độ tuổi già cả như vậy ông lại mong mỏi được tới thành Rome, nơi ông chưa bao giờ đặt chân tới. Ông cứ trù trừ hết lần này tới lần khác do e sợ mình sẽ không chịu đựng nổi niềm xúc động khi được diện kiến cái thực thể sống của nền văn hóa cổ đại Âu Châu. Cuối cùng, ông đã bị ngất đi và bất tỉnh trong phút chốc khi bước vào 1 đại lý du lịch ở Zurich để mua vé. Sau trải nghiệm này, ông đã có 1 quyết định sáng suốt là từ bỏ kế hoạch đó và ông không bao giờ được tận mắt chiêm ngưỡng thành Rome nữa. Hầu hết các nhà Hán học đều không được phú cho một độ nhạy bắt sóng như ông Zung, và cho dù có tinh nhạy được như thế đi chăng nữa thì cũng khó cho những người nghiên cứu về Trung Quốc cổ điển có thể tiếp cận Trung Quốc hiện đại ngày nay mà không quá đỗi xúc động hay xâm chiếm bởi tinh hoa lạ thường dường như tỏa ra từ khắp nơi ở một vùng đất quá đỗi gắn bó với lịch sử này.

Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự hiện diện của quá khứ ở đất nước Trung Quốc; đôi khi là ở những địa điêm không ngờ nhất, nơi có số lượng khách viếng thăm dày đặc: những tấm áp phích ở rạp chiếu phim, quảng cáo máy giặt, tivi hay kem đánh răng được bày dọc những con phố được viết bằng thứ ngôn ngữ hầu như không biến đổi gần 2 ngàn năm nay. Trong nhà trẻ, những đứa bé còn đang tập đi, miệng hát ê a bài thơ Tang ra đời khoảng 200 năm trước. Ở các nhà ga, những nhân viên tư vấn lịch trình tàu chạy đơn thuần cũng có thể là một trải nghiệm làm sững sờ bất cứ một nhà sử gia văn hóa nào: trí tưởng tượng bị nhào trộn bởi danh sách dài những thành phố vốn gắn với những thời kỳ huy hoàng của các triều đại trong quá khứ.Hay một lần nữa xuất hiện trong bối cảnh đặc trưng gần đây, các nhà khảo cổ học đã khám phá ra trong 1 ngôi mộ 2 ngàn năm tuồi, giữa những loại thực phẩm đã được chôn cùng người chết là một loại bánh nhân thịt (bánh bao) giống y như nó vẫn đang được bày bán ở các cửa hàng góc phố ngày nay. Và chúng ta có thể lấy vô số ví dụ tương tự như vậy.

Nhưng đồng thời, nghịch lý lại là cái quá khứ mà dường như thâm nhập và biểu thị với một sức sống đáng kinh ngạc như vậy, cũng vượt khỏi sự nhận biết về mặt vật chất của chúng ta một cách kì lạ. Vẫn cái đất nước Trung Hoa vốn giàu về lịch sử và các hồi ức này kì quặc thay lại thiếu vắng bóng dáng những công trình cổ đại. Sự vắng mặt các yếu tố vật chất liên quan tới quá khứ trong phong cảnh đất nước Trung Hoa có thể là yếu tố làm lúng túng những người thực dân (khai hóa) phương Tây, đặc biệt là nếu họ tiếp cận Trung Quốc với những tiêu chí và chuẩn mực được hình thành một cách tự nhiên trong môi trường Âu Châu. Tại Châu Âu, dù phải trải qua vô số cuộc chiến tranh và tàn phá, mỗi thời đại đều để lại một số lượng đáng kể những mốc giới hạn (ranh giới) các công trình kỉ niệm: những tàn tích của Hy Lạp và La Mã cổ đại, tất cả những thánh đường lớn thời trung cổ, các nhà thờ (giáo đường) và lâu đài của giai đoạn Phục Hưng, những công trình của kỉ nguyên Ba rôc; tất cả những cái này tạo nên một chuỗi các chứng tích kiến trúc liên tục góp phần duy trì, làm sống mãi những hồi ức của quá khứ ngay tại trung tâm những thành phố hiện đại của chúng ta. Ở Trung Quốc thì lại ngược lại, nếu trừ đi một lượng nhỏ những khúc đồng diễn nổi tiếng mà mức độ cổ xưa của chúng là tương đương thì điều gây ấn tượng với những du khách có học thức là sự thiếu vắng những công trình kỉ niệm của quá khứ. Hầu hết các thành phố Trung Quốc, bao gồm và đặc biệt là những thành phố vốn là thủ phủ cũ hoặc trung tâm văn hóa có uy tín trong lịch sử, ngày nay thể hiện những khía cạnh mà có thể ko chính xác là cái mới hay hiện đại (bởi vì nếu hiện đại hóa là cái đích mà TQ đang hướng đến thì vẫn còn một quãng đường dài trước khi nó có thể đạt tới) nhưng dường như lại thiếu vắng những đặc điểm truyền thống. Tóm lại, chúng có vẻ như là một sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa cuối thế kỉ 19. Vì thế, cái quá khứ mà vẫn tiếp tục tạo sức sống trong đời sống người TQ bằng những cách thức nổi bật, bất ngờ và hết sức tinh tế, dường như tồn tại trên mỗi con người hơn là gạch đá. Lịch sử TQ vừa thực sự thuộc về yếu tố tinh thần lại vừa vô hình về mặt vật chất.

Cần phải lưu tâm rằng, khi đề cập tới sự phá hủy các yếu tố vật chất gắn với quá khứ, tôi không có ý lại đề cập 1 lần nữa tới sự tàn phá rộng khắp và có tính hệ thống do cuộc “Cách mạng văn hóa” gây ra. Trong những năm cuối thời Mao, sự tàn phá này đúng là dẫn tới sa mạc văn hóa theo nghĩa đen của nó, ở vài thành phố, 95 cho tới 100% những di tích lịch sử và văn hóa đã biến mất vĩnh viễn. Tuy nhiên, lại phải nói rõ ngay rằng, nếu tại nhiều thành phố, các băng nhóm học sinh có thể cướp bóc, thiêu trụi và san bằng gần như toàn bộ các di tích cổ thì trong trường hợp cá biệt này, đó là do chẳng còn lại nhiều cho chúng tàn phá. Quả thực, có rất ít công trình còn tồn tại được sau cái thảm họa lịch sử ban đầu đó, và kết quả là những kẻ chuyên đi phá hoại các công trình văn hóa (do ác tâm hoặc ngu dốt) chả có mấy mục tiêu để mà bỏ sức. Trong cái bối cảnh này, việc nhìn nhận cuộc “Cách mạng văn hóa” như một sai lầm ngẫu nhiên có thể là mốt sơ suất. Nếu đặt lại nó vào một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thực ra nó dường như là biểu hiện gần nhất của cái hiện tượng đả phá tín ngưỡng nghiêm trọng cổ xưa mà đã tái diễn trong suốt các thời kì lịch sử. Không phải trở về với lịch sử xa xôi nào, cuộc nổi dậy Taiping vào giữa thế kỷ 19 đã tàn phá một cách trầm trọng hơn nhiếu so với cuộc “Cách mạng văn hóa”. Về sau, tôi sẽ còn trở lại với câu hỏi vể sự tàn phá có tính chu kỳ các di sản vật chất có liên quan tới quá khứ mà dường như đã trở thành đặc trưng của lịch sử đất nước Trung Hoa này.

Do đó, sự thiếu vắng gây bối rối những cảnh quan công trình lịch sử của Trung Quốc không thể đơn thuần nhìn nhận như là kết quả của những năm tháng hỗn loạn thời Mao Trạch Đông. Đặc trưng đó còn có tính chất lâu dài và sâu xa hơn nữa, và nó đã thực sự gây ấn tượng(chú ý) đối với những du khách Châu Âu vào những năm thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Riêng về mặt này, tôi cho rằng khó mà tìm được nhân chứng nào có tư cách và cởi mở hơn Victor Segalen (1878-1919), một nhà thơ đặc biệt, người vừa là nhà Hán học vừa là nhà khảo cổ học với nhiều thành tựu đáng kể. Ông đã ở Trung quốc vài năm vào thời điểm kết thúc của đế chế (giai đoạn kiểm soát) và tiến hành 2 cuộc hành trình khảo cổ dài vào những tỉnh vùng sâu xa hơn nữa của nội địa. Trong bài thơ tản văn “Aux Dix mille années” (1912), ông đã tổng kết lại một cách dễ nhớ cái nghịch lý mà tôi cho là nguyên nhân thái độ của người TQ đối với quá khứ của mình (Thực sự thì toàn bộ bài viết của tôi được khơi nguồn từ bài thơ này, và điều mà tôi đang cố làm ở đây chỉ là đưa ra 1 lời bình (nhận xét) cho nó).

Bài thờ của Segalen là một sự suy ngẫm về mối liên hệ giữa nền văn hóa Trung Hoa và thời gian. Mở đầu là sự gợi lên tương đối những nguyên tắc kiến trúc của các nền văn mình vĩ đại trong quá khứ và đối lập chúng với quan niêm của người Trung Quốc. Những quan điểm phi Trung Quốc (từ những quốc gia khác TQ), từ Ai Cập cổ đại cho tới phương Tây hiện đại về cơ bản là những nỗ lực chủ động,xông xáo nhằm thách thức và vượt qua sự tàn phá, bào mòn của thời gian. Họ có tham vọng kiến lập nên sự vĩnh cửu thông qua việc sử dụng những vật liệu bền chắc nhất có thể và những kỹ thuật mà đảm bảo được mức độ đàn hồi (linh hoạt?) tối đa. Nhưng dù có làm thế đi chăng nữa, những nhà kiến trúc (người thi công?) chỉ đang cố trì hoãn sự thất bại không thể tránh khỏi của mình mà thôi. Ngược lại, người Trung Quốc đã nhận thức được – như trong những lời thơ của Segalen – “nothing immobile can escape the hungry teeth of the ages” (ko một thực thể không hoạt động hay bất động? nào có thể thoát khỏi những chiếc răng háu đói của thời gian). Vì thế những kỹ sư xây dựng người TQ mà chịu khuất phục trước sự tấn công của thời gian làm chệch hướng của nó tốt hơn.

Những suy ngẫm của Segalen được hình thành từ những dữ liệu chính xác về mặt kỹ thuật: những công trình kiến trúc Trung Hoa thực sự được làm từ các vật liệu mỏng manh và dễ hỏng, chúng bao gồm cả 1 kiểu ”lỗi thời cố hữu”, chúng nhanh chóng bị hư hỏng và cần phải xây lại thường xuyên. Từ những quan sát thực tế này, ông rút ra một kết luận có tích chất triết học: người Trung Quốc đã thực sự chuyển đổi được vấn đề: sự vĩnh cửu không nên tồn tại ở các công trình mà nên sống trong những người xây dựng chúng.Trạng thái nguyên thủy ngắn ngủi nhất thời của công trình kiến trúc giống như một món tặng phẩm cho sự phàm ăn của thời gian, và vì cái giá phải trả cho những sự hi sinh như vậy, các nhà kiến tạo cần phải đảm bảo tính bất diệt của các thiết kết thuộc về yếu tố tinh thần.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2009

Sách với vở.

Hồi trước đọc sách thấy kể chuyện mấy ông trí thức Tây học về nước theo cụ Hồ phải mang theo mấy tấn sách để làm tài liệu.
Công nhận nếu thế thật thì các bố ấy quá giàu đi. 1 quyển sách cho là nặng 1kg đi,1Kg là loại sách phải hơn 600trang chứ không ít. Thế thì vài tấn sách tức là mấy nghìn quyển sách. Theo thời giá hiện tại là mỗi quyển cũng mấy chục €. Vì loại sách văn học khá rẻ sau nhiều lần xuất bản nên tiền bản quyền giảm theo, chứ sách khoa học thì in số lượng ít nên bán đắt. Vạy 40€X vài nghìn quyển thì các cụ ấy phải mất gần trăm nghìn € mua sách.

Ngày nay với sự phổ cập của internet thì chẳng ai điên mang cả tấn sách về quê cả. Tiền phí gửi cũng chết tiền rồi. Bây giờ có thể đọc được rất nhiều sách trên mạng dưới dạng ebook. Ngoài sách ra còn vô số tạp chí bài báo. Tất nhiên không phải lúc nào cũng free nhưng nói chung là đọc hết đống free thì cũng ốm.

Đó là sách về tri thức phổ thông nói chung, chứ sách chuyên ngành khoa học thì trên mạng không có nhiều lắm. Vì chuyên ngành càng sâu thì càng ít người nghiên cứu và đọc, bởi thế nhu cầu là không nhiều nên chẳng mấy ai up lên mạng cả.
Đúng ra thì trên ebook của google có cực nhiều sách, kể cả chuyên ngành. Ví dụ như sách bằng tiếng Pháp thì 80% số sách mình cần tìm đều có thể kiếm ở google, trừ những quyển nào mới ra thì chưa có. Tuy nhiên đọc trên máy tính rất đau mắt, đặc biệt là bọn google không up toàn bộ mà thường chỉ môt phần, đôi lúc thiếu vài ba trang đang đọc tức như bò đá.

Ngoài google ra thì còn có nhiều trang web khác khá phong phú. Tuy vậy vẫn không thể nói là đầy đủ được, đặc biệt là các publication mới thường chưa kịp up. Mà khoa học thì luôn cần cập nhật, đặc biệt là về khoa học xã hội, chứ không cứ hùng hục nghiên cứu cả năm rồi mới ngã ngửa ra là cái mình làm đã có thằng làm cả chục năm trước.
Nói thêm là tình trạng khoa học của Vn rất phò phạch, nhưng phò phạch nhất là các ngành khoa học xã hội. Các giáo sư với chuyên gia rất là lười đọc sách, một phần là không chú tâm, thứ 2 là không thạo ngoại ngữ nào để có thể đọc tài liệu thoải mái, mà thạo ngoại ngữ thì làm giáo sư làm cóc gì cho nghèo, đi làm phiên dịch hay làm cho NGO mau kiếm tiền hơn. Bởi tình trạng này mới có chuyện là nhiều hội thảo các bác giáo sư cãi nhau chí chóe về những khái niệm thuộc loại sơ đẳng nhất của chuyên ngành.
Nói chung để viết báo và làm nghiên cứu bên lĩnh vực khoa học xh mà không rành một trong các ngoại ngữ phổ biến (ANh, Pháp, Trung, Tây Ban NHa, Nga, Đức và có thể cả Nhật nữa) thì nghiên cứu lịch sử Đảng là hợp nhất, vì kiến thức khoa học bằng tiếng Việt thực sự rất khiêm tốn mà nhiều khi không chính xác và cập nhật.


Không phải sách nào cũng tìm được bản online, thậm chí thư viện cũng khó tìm mặc dù hệ thống thư viện của Pháp phải nói là vĩ đại, sẽ kể về nó khi nào rỗi. Cho nên thấy quyên nào hay mình phải scan ngay. Nhưng scan lâu quá, nên bây giờ dùng máy ảnh chụp luôn rất nhanh tuy chất lượng ko tốt bằng scan. Nhưng dung lượng bé và nhanh. Một quyển sách 900 trang hôm trước thử chụp mất không đến 1h.
CHụp lại sau đỡ phải mượn thư viện khi cần tra cứu, thêm nữa sau về Vn làm gì có cơ hội mà kiếm sách, và tiếp là nếu ai cần tài liệu có thể chia sẽ. hihi

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Lịch sử và chính trị

Viết luận văn tìm tài liệu tình cờ vào trang web của 1 ông giáo sư dạy cấp 3 của Pháp. Thật là kinh khủng, giáo viên cấp 3 mà có học vị tiến sĩ (đa số giáo viên cấp 3 ở Pháp đều có bằng Ph.D hoặc kém lắm thì cũng master, tất nhiên trừ các ông giáo viên dạy thể dục), xuất bản hàng chục quyển sách và công bố cả trăm bài báo nghiên cứu. Hơn đứt bất kỳ học giả nào của Việt Nam.
http://denis-collin.viabloga.com/
Đặc biệt ông này nghien cứu rất nhiều về chủ nghĩa Marx, nhưng món này mình không quan tâm và ngán tận cổ, chỉ đọc những gì ông ấy viết về lịch sử và chính trị thôi.

Đã đăng kí theo dõi blog của cụ, lúc nào rỗi sẽ đọc dần dần.

Nói chung viết sách như các "học giả" xôi thịt nhà mình thì mỗi tháng mình tập trung chắc viết được 1 quyển. he he. Sau này lấy vợ sẽ xin tiền vợ in sách mình viết, không ai đọc thì cũng giúp cho ma'y bà bán xôi đầu phố đỡ phải mua giấy.

"On peut dire que la science historique se construit d’abord par une patiente déconstruction de la mémoire. J’en donne quatre traits essentiels.

1. La mémoire est subjective. Elle s’inscrit toujours dans un vécu de conscient. La mémoire est ma mémoire. L’histoire vise l’objectivité. L’histoire n’est pas mon histoire, elle est posée comme existence extérieure à la conscience. La mémoire historique est toujours notre mémoire. Notre mémoire de l’histoire de France n’est pas la mémoire de l’histoire de France de nos voisins et réciproquement ! Au contraire, l’histoire implique un décentrement du regard. Ce qu’on appelle objectivité, qui est la possibilité de se changer de point de vue, de ne pas être soumis à un point de vue particulier.

2. La mémoire présuppose l’oubli comme son indispensable complément. Je ne peux me souvenir qu’en sélectionnant ce qui doit être oublié. La mémoire collective fonctionne, elle aussi, à l’oubli. On perçoit couramment l’oubli comme un pur négatif, un manque de mémoire. Mais l’oubli est comme le fond nécessaire à partir duquel peut émerger la mémoire. L’oubli est même parfois commandé, par exemple pour des raisons politiques, religieuses, etc. L’histoire (comme la psychanalyse !) vise à faire revenir l’oublié.

3. La mémoire s’inscrit dans un récit. La mémoire individuelle est ce par quoi l’individu constitue sa propre identité. Elle est entièrement pensée à partir du présent – la mémoire, c’est toujours le passé au présent. Il en va de même de la mémoire collective. Ce dont les communautés historiques gardent la trace, c’est qui constitue encore le présent. Ce qui disparaît de la mémoire collective, c’est ce qui n’a plus cours. Dans les deux cas, la mémoire est orientée dans un récit dont la fin est connue. Elle est donc nécessairement téléologique : la vérité des événements passés réside dans le présent. La science historique, dès qu’elle se veut véritablement scientifique, doit sortir du récit, précisément parce qu’elle doit sortir de la téléologie, de l’histoire orientée vers une fin idéale, c'est-à-dire, en réalité, de l’interprétation du passé en fonction du présent.

4. La mémoire ne se soucie que de l’enchaînement temporel des images – elle s’identifie à notre conscience intime du temps. Il en va de même avec la mémoire collective qui fonctionne par images (" les images d’Épinal !) L’histoire, au contraire, s’intéresse à la causalité. Les faits et les événements doivent apporter une intelligibilité de l’ensemble du processus historique.

Je sais bien que je dresse ici un portrait idéal de la science historique. Paul Ricoeur a longuement discuté des limites de la scientificité de l’histoire. Pour lui, en dépit des efforts de l’historiographie moderne, l’histoire ne peut s’émanciper du récit. La question de la causalité en histoire reste très largement en suspens. Nous savons bien que l’histoire ne se pense pas comme les sciences de la nature. Nous savons bien que les " lois " de l’histoire n’ont pas grand chose à voir avec les lois de la physique. Je suis même prêt à reprendre à mon compte la distinction de Dilthey entre sciences nomologiques et sciences herméneutiques et à placer l’histoire dans le camp de ces dernières. Mais cette séparation, si elle est fondée sur de bons arguments, n’émancipe pas pour autant l’histoire des exigences qui s’imposent aux sciences de la nature, même si " l’obligation de résultat " ne peut jamais être du même ordre.

Donc, la science historique ne peut que se placer dans une perspective de compréhension rationnelle et d’objectivité, cette perspective qui distingue radicalement le livre d’un historien d’un roman historique – sans que je veuille ici dévaloriser le roman historique comme genre littéraire. Certes l’histoire ne peut échapper au conflit des interprétations, mais la vérité scientifique reste son idéal régulateur.

Mémoire et histoire selon Pierre Nora

Cette opposition entre histoire et mémoire, Pierre Nora en fait le thème introducteur de ses " Lieux de mémoire ". Mais avec une forte connotation péjorative. Je voudrais en commenter quelques passages.

" Mémoire, histoire : loin d'être synonymes, nous prenons conscience que tout les oppose. La mémoire est la vie, toujours portée par des groupes vivants et à ce titre, elle est en évolution permanente, ouverte à la dialectique du souvenir et de l'amnésie, inconsciente de ses déformations successives, vulnérable à toutes les utilisations et manipulations, susceptible de longues latences et de soudaines revitalisations. L'histoire est la reconstruction toujours problématique et incomplète de ce qui n'est plus. La mémoire est un phénomène toujours actuel, un lien vécu au présent éternel ; l'histoire, une représentation du passé. Parce qu'elle est affective et magique, la mémoire ne s'accommode que des détails qui la confortent ; elle se nourrit de souvenirs flous, télescopants, globaux ou flottants, particuliers ou symboliques, sensible à tous les transferts, écrans, censure ou projections. L'histoire, parce que opération intellectuelle et laïcisante, appelle analyse et discours critique. La mémoire installe le souvenir dans le sacré, l'histoire l'en débusque, elle prosaïse toujours. La mémoire sourd d'un groupe qu'elle soude, ce qui revient à dire, comme Halbwachs l'a fait, qu'il y a. autant de mémoires que de groupes ; qu'elle est, par nature, multiple et démultipliée, collective, plurielle et individualisée. L'histoire, au contraire, appartient à tous et à personne, ce qui lui donne vocation à l'universel. La mémoire s'enracine dans le concret, dans l'espace, le geste, l'image et l'objet. L'histoire ne s'attache qu'aux continuités temporelles, aux évolutions et aux rapports des choses. La mémoire est un absolu et l'histoire ne connaît que le relatif. "

Jusqu’ici, je crois que l’opposition entre histoire et mémoire est correctement perçue. Mais la suite pose plus de problèmes.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

远方很远

Phương xa quá xa mà lòng người thì bề bộn với những lo toan.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2009

Dự án Đại Paris





Quy hoạch và quản lý đô thị là một quá trình cải biến không ngừng nhằm hướng đến một môi trường sống hài hòa, bền vững và công bằng cho mỗi người dân trong đô thị đó.

Paris với kế hoạch Haussmann đã biến đổi sâu sắc, đưa thành phố này thành một trong những đô thành đẹp và lãng mạn nhất địa cầu. Không dừng lại ở đó, chính quyền nước Pháp đang khẩn trương xúc tiến dự án nhằm hướng Paris tới năm 2030.

Ngày 29 tháng 04, tổng thống Pháp Sarkozy đưa ra các đề xuất nhân dịp triển lãm tại cung kiến trúc và di sản Paris

Đây là một trong những ưu tiên hàng đầu của nhiệm kỳ năm năm tổng thống mà ông Sarkozy muốn nhắm tới và ông đã yêu cầu khoảng một chục kiến trúc sư suy nghĩ về hồ sơ này và trình bày đồ án đang được trình bày tại Trung tâm Kiến trúc và di sản.

Trong bài diễn văn đọc hôm 29.04 tại Trung tâm Kiến trúc và di sản, tổng thống Nicolas Sarkozy đã công bố những đường nét chính của dự án quy hoạch một vùng rộng lớn bao gồm thủ đô Paris, các khu ngoại ô và các sân bay quốc tế, nhằm biến cả vùng "Đại Paris" thành đầu tàu kinh tế cho cả nước Pháp và Châu Âu.

Tổng thống Sarkozy mong muốn công trình được khởi động ngay từ năm 2012, với mục tiêu là thực hiện tốt mọi kế hoạch trước năm 2030.

Các ý tưởng được trưng bày tại đây bắt đầu từ ngày 29 tháng tư, bao gồm 10 đề xuất của các kiến trúc sư phụ trách đề án được Sarkozy giao phó vào ngày 17 tháng 9 năm 2007 nhằm dự kiến « một dự án mới về quy hoach tổng thế ». Cũng chính tổng thống Pháp là người chính thức khởi động dự án « Đại Paris ».


Các kiến trúc sư được mời tham gia đề xuất đều là những tên tuổi lớn của làng kiến trúc thế giới như các kiến trúc sư người Pháp Jean Nouvel, Christian de Portzamparc, kiến trúc sư người Anh Richard Rogers, và các quy hoạch gia tầm cỡ người Ý Bernado Secchi, Yves Lion, Atoine Grumbach, Finn Geipel (Đức), Winy Masse (Hà Lan),và Djamel Klouche, một kiến trúc sư nổi tiếng trong lĩnh vực quy hoạch các khu ngoại ô. Trong 9 tháng, những người này phụ trách các nhóm làm việc khác nhau. Thành phần của các ê kíp làm việc này không chỉ gồm các kiến trúc sư mà còn có sự tham gia của các kỹ sư, các nhà xã hội học, địa lý học, các kinh tế gia và nghệ sĩ... Cuối cùng, công việc của các nhóm với cả nghìn đề xuất được ghép lại tạo thành một đề án quy hoạch tổng thế của Paris.

Quá trình nghiên cứu và đánh giá rất nghiêm túc. Bị bó chặt không gian trong khu nội đô, Paris ngột ngạt trong diện tích 105km nhỏ bé của thành phố, nội đô Paris chỉ bằng 1/12 diện tích London và 1/8 diện tích Berlin. Bên ngoài nội thành là các khu ngoại ô rộng lớn lộn xộn xen kẻ các khu dân cư lọt thỏm ở giữa, các quần thể kiến trúc khổng lồ, những trung tâm thương mai vô tận, và cả những khu đất hoang bị lãng quên. Chưa kể thời gian đi lại di chuyển điên rồ và sự chênh lệch về kinh tế một cách nghiêm trọng. Về tổng thế, như Winy Mass kết luận thì Paris tổng quan là « một thành phố xấu xí ».

Chuyên gia kỳ cựu trong lĩnh vực quy hoạch ngoại ô, Roland Castro kết luận “cần phải xóa bỏ thứ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong quy hoạch. Đảm nhận một công việc nghiêm túc, chúng tôi phải thực hiện lại ở tầm lớn hơn dụ án « bình định đô thi » đã thành công bởi Haussmann ở nội ô Paris, với một không gian công công bình đẳng và cùng sẻ chia hơn ».

Paris xanh

Paris tương lai trong mắt của các kiến trúc sư sẽ là một « Paris xanh », kết thúc thời kỳ thống trị của xe hơi và sự chi phố của nó đối với toàn thể các chính sách đô thị. Ở ngoại ô cũng như trong các trung tâm nội đô sẽ đa phần sẽ là các loại xe hơi dùng điện, xe đạp và các phương tiện giao thông công cộng. Màn đêm buông xuống, dưới ánh sáng của những ngọn đèn đường tiết kiệm năng lượng là những đoàn tàu điện dùng vận chuyển hàng hóa từ các bến bãi lưu trữ ở ngoại ô thành phố. Cải cách hệ thống vận chuyển này giúp giảm bớt diện tích của đường giao thông nhường chỗ cho diện tích các công viên, quảng trường và đường dành cho người đi bộ. Giảm thiểu tiếng gầm rú của động cơ ô tô, sự ngột ngạt của khí thải sẽ giúp Paris trở nên dễ chịu hơn.


Đề án của Roland Castro

Cuộc cách mạng xanh tiếp tục được thực hiện ngay cả trong lòng đất « Ngay dưới lòng đất của các công viên, chúng ta có thể kết hợp xây dựng các trung tâm xử lý rác thải cũng như sản xuất điện và cung cấp nhiệt sưởi ấm. » Richard Rogers khuyến nghị. Không dừng lại ở đó, nếu chúng ta ngước đầu lên, điều kì diệu sẽ còn tiếp tục : Trên những mái nhà kiểu mới màu kẽm của kinh đô ánh sáng xen kẻ hàng loạt những tấm pin năng lượng mặt trời, kèm theo là những « tấm thảm xanh » của những khu vườn treo lớn sẽ thu nhận nước mưa và tạo thành lá phổi xanh của thành phố ngay giữa hàng loạt những trạm phát điện gió mini.

Những tòa nhà cao tầng ở đường chân trời.

Dưới ngọn chì của Jean Nouvel, Paris vào năm 2030 sẽ có tầm cao mới. Những tòa nhà cao tầng kiểu mới vươn lên bầu trời thủ đô thành những trục lớn xung quanh vùng ngoại ô. Những điểm nhấn đô thị này hướng tới việc tạo ra bộ mặt mới cho thành phố, một dáng hình vừa xa lạ vừa quen thuộc, vừa thanh mảnh vừa to lớn. « Di sản của chúng ta bao gồm những yếu tố về chiều dọc- những tháp chuông nhà thờ, tháp nước, lâu đài có thể là cảm hứng cho những tòa cao ốc mới ». Jean Nouvel nhấn mạnh. Những tòa nhà cao tầng kiểu mới thực sự là khuôn mẫu cho sự phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa khu dân cư với văn phòng và sản xuất năng lượng, bao quanh là những khu vườn rộng mở.

Một trăm bốn bảy tòa cao ốc đã có lâu nay ở Paris sẽ được tân trang lại. Biểu tượng của thủ đô Paris, tòa tháp Montparnasse sẽ được sửa chữa và trang trí lại phần đỉnh tháp theo đề xuất của Frank Gehry và xây thêm ba cao ốc khác liền kề nhằm giảm bớt sự đơn độc và tầm thường của tòa tháp cao hơn 200 mét này.

Khoác áo cho bầu trời chỉ là một phần nhỏ, người ta còn có thể dạo bộ trên đó. « Những ban công kiểu Paris » được đề xuất nối liền các tòa tháp, nhô ra các công viên và chạy dọc các khu phổ mới, giống như đã có sẵn ở khu Batignolles. « Đó là những khu sân ở trên cao và rộng rãi, với những phố dạo bộ rộng 30m, nhiều tầng khác nhau và kéo dài cũng như nối liên các tòa nhà và các công trình khác, tạo nên một kết cấu không gian công cộng mới và một nhịp điệu đô thị khác ».

Một nhà ga lớn Bắc Pháp- Châu Âu.

Tại bốn phương của « Đại paris », những nơi cao báo hiệu trên bầu trời vùng Ile-de-France những trung tâm mới của vùng, sẽ làm cân bằng về mặt địa lý và kinh tế của cả vùng rộng lớn : Massy và vùng cao nguyên Saclay, khu Bourget và Roissy, Orly và Rungis, cảng Gennevillier, công vinee La Courrneuve…Aubervilliers, nơi sẽ xây dựn các khu cao ốc tạo thành phố thương mại được dựng nên cạnh một nhà ga mới toanh, nhà ga Bắc – Châu Âu, sẽ nối liền Paris với London, Bruselle, Rotterdam và Francfort.

« Paris có may mắn trở thành ngã tư của hệ thống đường sắt cao tốc, nhưng các nhà ga hiện có (gare miền Tây và ga miền Bắc) không cho phép tạo nên một trung tâm thực sự » kiến trúc sư Christian de Portzampars nhận xét. Để vận hành hiệu quả, một trung tâm giao thông đường sắt như vậy cần có một trung tâm hội nghị, các khách sạn tiêu chuẩn, các văn phòng với đầy đủ dịch vụ cần thiết. Phải có nơi để mọi người có thể gửi xe và con cái của họ ở đó cả ngày- Đó là lý do cần phải chuyển các nhà ga hiện nay tới Aubervilliers, cũng như điều chỉnh các hoạt động kinh doanh về hướng Đông Bắc thay vì tập trung tất cả vào khu La Défense, và hoàn thiện việc phát triển khu Plaine-Saint- Denis.

Việc quy hoạch lại hệ thống nhà ga này cũng có ưu điểm lớn là sẽ tạo thêm các đại lộ mới và các công viên lớn khi chuyển đổi các nhà ga cũ và hệ thống giao thông đường sắt hiện có.

Những công trình rải rộng khắp.

Bên cạnh các nhà ga, vào năm 2030, thủ đô nước Pháp sẽ phân bố lại các công trình kiến trúc và các kết cấu hạ tầng khác trải rộng khắp trên toàn bộ lãnh thổ. « Paris cần phải thể hiện một chính sách đô thị mới thông qua việc xây dựng các công trình văn hóa ở vùng ngoại ô » Roland Castro kiến nghị. Để đáp ứng nhu cầu giải trí cuối tuần cũng như dã ngoại của học sinh, các công trình lớn sẽ được xây dựng ở vùng ngoại ô như viện bảo tàng tưởng niệm thế giới, hội chợ triển lãm Gênse, nhà hát… Những công trình này sẽ phần nào giảm bớt sự thiếu hụt các công trình văn hóa ở các khu ngoại ô.

Chính phủ sẽ làm gương trước tiên. Khoảng hai mươi cơ quan cấp bộ và các cơ quan hành chính lớn sẽ chuyển tới Créteil, Clichy, Sarcelles và Gennevilliers. « Phân bổ lại các bộ ra vùng ngoại ô điều đó cũng giúp ích cho việc tạo ra lợi ích công cộng ở khắp nơi », Roland Castro lập luận. Biểu trưng cho quá trình này sẽ là trụ sở của « Đại Paris », một tòa nhà tiết kiệm năng lượng và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường được xây dựng tại điểm hợp lưu của sông Seine và sông Marne.

Những khu ngoại ô nhân văn hơn.

Dĩ nhiên quan trọng hơn việc thiết lập những công trình khổng lồ là việc mỗi km lãnh thổ phải được chăm sóc để tạo cho nó một bộ mặt đô thị : Mạng lưới đường phố và đại lộ chạy dọc các khu dân cư cho phép lưu thông từ khu vực này sang khu vực kia môt cách thuận tiện. « Mạng lưới đường cao tốc và đường sắt đã có làm gia tăng thêm nhiều hố ngăn cách và làm cho lãnh thổ bị chia cắt đứt đoạn » Christian de Portzamparc phân tích. Để khắc phục người ta sẽ thiết lập các cầu vượt và hầm dành cho người đi bộ xuyên qua các đường quốc lộ, đường cao tốc cũng như đường sắt.

Những khu dân cư rộng rãi.

Vào năm 2030, người dân Paris có thể cư trú ở mọi nơi trên toàn bộ thủ đô. Lâu nay người dân thủ đô luôn đối mặt với giá nhà đất cao nơi đây và buộc phải sống chuyển ra sống ở các vùng rất xa trung tâm. 20 năm tới tình trạng này sẽ được khắc phục, khoảng 60.000 chỗ ở được tạo ra hằng năm. « Đại Paris » vào năm 2030 sẽ có thêm 1.5 triệu dân so với năm 2009. Người dân có thể xây nhà ở khắp mọi nơi và nhờ thế làm hạ giá nhà đất bằng 2 nguyên lý đơn giản : Làm cho giá đất rẻ hơn thông qua tăng nguồn cung và xây dựng nhà cửa ở những khu vực lâu nay người ta cho là không thể.

Để làm được đó, kiến trúc sư Yves Lion cho rằng « chúng ta phải chấp nhận việc dân cư sống gần các khu vực đường sá, giống như những gì mà người Hà lan đã làm thay vì buộc dân cư sống cách xa các khu vực này như lâu nay. Để làm điều này, người ta kiến nghi bãi bỏ quy định mang tên Dupont vốn cấm xây dựng trong vòng 100m kể từ các con đường có mật độ lưu thông cao. « Người ta hoàn toàn có thể xây dựng ở nhưng nơi có nguy cơ lũ lụt, cần phải chấm dứt nguyên tắc phòng ngừa vốn chỉ giúp ích cho các ông tỉnh trưởng ăn no ngủ kỹ ». Roland Castro nói thêm.

Hạn chế sử dụng xe hơi.



Giao thông nội đô Paris tương lai của Rogers Stirk Harbour

Sẽ có khoảng 270km2 đất lâu nay là những con đường chật đầy xe cộ sẽ được chuyển đổi thành các đại lộ có cây xanh thuận tiện cho người đi bộ chạy dọc theo các khu dân cư, trên các con đường « kiểu mới này » sẽ cùng lúc có tàu điện xe đạp cùng song hành với xe hơi.

Người ta cũng sẽ sử dụng xe hơi ít đi bằng cách tăng thêm các khu vực cấm xe hơi và tăng giá xăng đồng thời khuyến khích dân chúng sử dụng các phương tiện giao thông sạch khác. Sự bùng nổ của mua sắm thông qua mạng internet làm nảy sinh thêm hàng trăm trung tâm giao hàng trở thành các trung tâm tập trung của các khu dân cư. Một mô hình phỏng thoe konbini của Nhật, hệ thống ác siêu thị nhỏ dựa trên dây chuyền phân phối được cấu trúc tốt và tin học hóa giảm thiểu việc vận chuyển. Người ân có thể đi mua sắm thông qua việc lướt web, trả tiền và nhận hàng mà không cần phải di chuyển.

Đến năm 2030, việc di chuyển bằng ô tô trong khu vực Paris sẽ giảm đi đáng kể. Thông qua quá trình cơ cấu lại các trung tâm kinh tế và hệ thống giao thông công cộng. Kế hoạch này liên quan đến việc xây dựng một hệ thống tàu điện ngầm chạy xung quanh thành phố Paris và nối liền các trục kinh tế, như là Roissy, Orly, La Defense, v.v…

Nhiều tuyến xe "lộ thiên" trong mắt của kiến trúc sư Christian de Portzamparc


Nhiều tuyến xe "lộ thiên" trong mắt của kiến trúc sư Christian de Portzamparc

Có tên là "Grand Huit" và dài khoảng 130 cấy số, hệ thống métro này sẽ nối kết tất cả các trạm chót của các đường tàu điện ngầm và xe bus có sẵn. Số tiền đầu tư vào dự án này là 21 tỷ đôla.

Dự án « Đại Paris » cũng sẽ trả lại cho thiên nhiên vị trí xứng đáng của nó thông qua việc tăng thêm các công viên và hồ nước tại thủ đô và vùng phụ cận. Chính quyền cũng cho phép người dân thành phố trồng cây ở những khu vực có thể. Ngoài ra còn thiết lập một vành đai rừng cũng như các khu vực nông nghiệp ngay trong thành phố, « Nông thôn không còn được xem như là sự kéo dài tự nhiên của thành phố cũng như không đơn thuần là một nơi để nghỉ ngơi giải trí mà đó phải là một bộ phận không thể tách rời của không gian đô thị và của nền kinh tế đô thị » Yves Lion giải thích. Để đạt được mục tiêu này, các nhà hoạch định dự án đưa ra tiêu chỉ khai thác sử dụng bền vững các khu rừng của thủ đô. Theo đó đến năm 2030 diện tích rừng của vùng sẽ tăng thêm 30%, với 1400km2 rừng được tăng thêm bổ sung cho 4500km2 hiện có sẽ tạo cho Paris và vùng phụ cận một thảm thực vật rộng lớn góp phần cung cấp gỗ để sưởi ấm vào mùa đông cũng như làm vật liệu xây dựng…góp phần chống lại các ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu.

Paris xanh của Finn Geipel