Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Lịch sử và chính trị

Viết luận văn tìm tài liệu tình cờ vào trang web của 1 ông giáo sư dạy cấp 3 của Pháp. Thật là kinh khủng, giáo viên cấp 3 mà có học vị tiến sĩ (đa số giáo viên cấp 3 ở Pháp đều có bằng Ph.D hoặc kém lắm thì cũng master, tất nhiên trừ các ông giáo viên dạy thể dục), xuất bản hàng chục quyển sách và công bố cả trăm bài báo nghiên cứu. Hơn đứt bất kỳ học giả nào của Việt Nam.
http://denis-collin.viabloga.com/
Đặc biệt ông này nghien cứu rất nhiều về chủ nghĩa Marx, nhưng món này mình không quan tâm và ngán tận cổ, chỉ đọc những gì ông ấy viết về lịch sử và chính trị thôi.

Đã đăng kí theo dõi blog của cụ, lúc nào rỗi sẽ đọc dần dần.

Nói chung viết sách như các "học giả" xôi thịt nhà mình thì mỗi tháng mình tập trung chắc viết được 1 quyển. he he. Sau này lấy vợ sẽ xin tiền vợ in sách mình viết, không ai đọc thì cũng giúp cho ma'y bà bán xôi đầu phố đỡ phải mua giấy.

"On peut dire que la science historique se construit d’abord par une patiente déconstruction de la mémoire. J’en donne quatre traits essentiels.

1. La mémoire est subjective. Elle s’inscrit toujours dans un vécu de conscient. La mémoire est ma mémoire. L’histoire vise l’objectivité. L’histoire n’est pas mon histoire, elle est posée comme existence extérieure à la conscience. La mémoire historique est toujours notre mémoire. Notre mémoire de l’histoire de France n’est pas la mémoire de l’histoire de France de nos voisins et réciproquement ! Au contraire, l’histoire implique un décentrement du regard. Ce qu’on appelle objectivité, qui est la possibilité de se changer de point de vue, de ne pas être soumis à un point de vue particulier.

2. La mémoire présuppose l’oubli comme son indispensable complément. Je ne peux me souvenir qu’en sélectionnant ce qui doit être oublié. La mémoire collective fonctionne, elle aussi, à l’oubli. On perçoit couramment l’oubli comme un pur négatif, un manque de mémoire. Mais l’oubli est comme le fond nécessaire à partir duquel peut émerger la mémoire. L’oubli est même parfois commandé, par exemple pour des raisons politiques, religieuses, etc. L’histoire (comme la psychanalyse !) vise à faire revenir l’oublié.

3. La mémoire s’inscrit dans un récit. La mémoire individuelle est ce par quoi l’individu constitue sa propre identité. Elle est entièrement pensée à partir du présent – la mémoire, c’est toujours le passé au présent. Il en va de même de la mémoire collective. Ce dont les communautés historiques gardent la trace, c’est qui constitue encore le présent. Ce qui disparaît de la mémoire collective, c’est ce qui n’a plus cours. Dans les deux cas, la mémoire est orientée dans un récit dont la fin est connue. Elle est donc nécessairement téléologique : la vérité des événements passés réside dans le présent. La science historique, dès qu’elle se veut véritablement scientifique, doit sortir du récit, précisément parce qu’elle doit sortir de la téléologie, de l’histoire orientée vers une fin idéale, c'est-à-dire, en réalité, de l’interprétation du passé en fonction du présent.

4. La mémoire ne se soucie que de l’enchaînement temporel des images – elle s’identifie à notre conscience intime du temps. Il en va de même avec la mémoire collective qui fonctionne par images (" les images d’Épinal !) L’histoire, au contraire, s’intéresse à la causalité. Les faits et les événements doivent apporter une intelligibilité de l’ensemble du processus historique.

Je sais bien que je dresse ici un portrait idéal de la science historique. Paul Ricoeur a longuement discuté des limites de la scientificité de l’histoire. Pour lui, en dépit des efforts de l’historiographie moderne, l’histoire ne peut s’émanciper du récit. La question de la causalité en histoire reste très largement en suspens. Nous savons bien que l’histoire ne se pense pas comme les sciences de la nature. Nous savons bien que les " lois " de l’histoire n’ont pas grand chose à voir avec les lois de la physique. Je suis même prêt à reprendre à mon compte la distinction de Dilthey entre sciences nomologiques et sciences herméneutiques et à placer l’histoire dans le camp de ces dernières. Mais cette séparation, si elle est fondée sur de bons arguments, n’émancipe pas pour autant l’histoire des exigences qui s’imposent aux sciences de la nature, même si " l’obligation de résultat " ne peut jamais être du même ordre.

Donc, la science historique ne peut que se placer dans une perspective de compréhension rationnelle et d’objectivité, cette perspective qui distingue radicalement le livre d’un historien d’un roman historique – sans que je veuille ici dévaloriser le roman historique comme genre littéraire. Certes l’histoire ne peut échapper au conflit des interprétations, mais la vérité scientifique reste son idéal régulateur.

Mémoire et histoire selon Pierre Nora

Cette opposition entre histoire et mémoire, Pierre Nora en fait le thème introducteur de ses " Lieux de mémoire ". Mais avec une forte connotation péjorative. Je voudrais en commenter quelques passages.

" Mémoire, histoire : loin d'être synonymes, nous prenons conscience que tout les oppose. La mémoire est la vie, toujours portée par des groupes vivants et à ce titre, elle est en évolution permanente, ouverte à la dialectique du souvenir et de l'amnésie, inconsciente de ses déformations successives, vulnérable à toutes les utilisations et manipulations, susceptible de longues latences et de soudaines revitalisations. L'histoire est la reconstruction toujours problématique et incomplète de ce qui n'est plus. La mémoire est un phénomène toujours actuel, un lien vécu au présent éternel ; l'histoire, une représentation du passé. Parce qu'elle est affective et magique, la mémoire ne s'accommode que des détails qui la confortent ; elle se nourrit de souvenirs flous, télescopants, globaux ou flottants, particuliers ou symboliques, sensible à tous les transferts, écrans, censure ou projections. L'histoire, parce que opération intellectuelle et laïcisante, appelle analyse et discours critique. La mémoire installe le souvenir dans le sacré, l'histoire l'en débusque, elle prosaïse toujours. La mémoire sourd d'un groupe qu'elle soude, ce qui revient à dire, comme Halbwachs l'a fait, qu'il y a. autant de mémoires que de groupes ; qu'elle est, par nature, multiple et démultipliée, collective, plurielle et individualisée. L'histoire, au contraire, appartient à tous et à personne, ce qui lui donne vocation à l'universel. La mémoire s'enracine dans le concret, dans l'espace, le geste, l'image et l'objet. L'histoire ne s'attache qu'aux continuités temporelles, aux évolutions et aux rapports des choses. La mémoire est un absolu et l'histoire ne connaît que le relatif. "

Jusqu’ici, je crois que l’opposition entre histoire et mémoire est correctement perçue. Mais la suite pose plus de problèmes.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

远方很远

Phương xa quá xa mà lòng người thì bề bộn với những lo toan.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2009

Dự án Đại Paris





Quy hoạch và quản lý đô thị là một quá trình cải biến không ngừng nhằm hướng đến một môi trường sống hài hòa, bền vững và công bằng cho mỗi người dân trong đô thị đó.

Paris với kế hoạch Haussmann đã biến đổi sâu sắc, đưa thành phố này thành một trong những đô thành đẹp và lãng mạn nhất địa cầu. Không dừng lại ở đó, chính quyền nước Pháp đang khẩn trương xúc tiến dự án nhằm hướng Paris tới năm 2030.

Ngày 29 tháng 04, tổng thống Pháp Sarkozy đưa ra các đề xuất nhân dịp triển lãm tại cung kiến trúc và di sản Paris

Đây là một trong những ưu tiên hàng đầu của nhiệm kỳ năm năm tổng thống mà ông Sarkozy muốn nhắm tới và ông đã yêu cầu khoảng một chục kiến trúc sư suy nghĩ về hồ sơ này và trình bày đồ án đang được trình bày tại Trung tâm Kiến trúc và di sản.

Trong bài diễn văn đọc hôm 29.04 tại Trung tâm Kiến trúc và di sản, tổng thống Nicolas Sarkozy đã công bố những đường nét chính của dự án quy hoạch một vùng rộng lớn bao gồm thủ đô Paris, các khu ngoại ô và các sân bay quốc tế, nhằm biến cả vùng "Đại Paris" thành đầu tàu kinh tế cho cả nước Pháp và Châu Âu.

Tổng thống Sarkozy mong muốn công trình được khởi động ngay từ năm 2012, với mục tiêu là thực hiện tốt mọi kế hoạch trước năm 2030.

Các ý tưởng được trưng bày tại đây bắt đầu từ ngày 29 tháng tư, bao gồm 10 đề xuất của các kiến trúc sư phụ trách đề án được Sarkozy giao phó vào ngày 17 tháng 9 năm 2007 nhằm dự kiến « một dự án mới về quy hoach tổng thế ». Cũng chính tổng thống Pháp là người chính thức khởi động dự án « Đại Paris ».


Các kiến trúc sư được mời tham gia đề xuất đều là những tên tuổi lớn của làng kiến trúc thế giới như các kiến trúc sư người Pháp Jean Nouvel, Christian de Portzamparc, kiến trúc sư người Anh Richard Rogers, và các quy hoạch gia tầm cỡ người Ý Bernado Secchi, Yves Lion, Atoine Grumbach, Finn Geipel (Đức), Winy Masse (Hà Lan),và Djamel Klouche, một kiến trúc sư nổi tiếng trong lĩnh vực quy hoạch các khu ngoại ô. Trong 9 tháng, những người này phụ trách các nhóm làm việc khác nhau. Thành phần của các ê kíp làm việc này không chỉ gồm các kiến trúc sư mà còn có sự tham gia của các kỹ sư, các nhà xã hội học, địa lý học, các kinh tế gia và nghệ sĩ... Cuối cùng, công việc của các nhóm với cả nghìn đề xuất được ghép lại tạo thành một đề án quy hoạch tổng thế của Paris.

Quá trình nghiên cứu và đánh giá rất nghiêm túc. Bị bó chặt không gian trong khu nội đô, Paris ngột ngạt trong diện tích 105km nhỏ bé của thành phố, nội đô Paris chỉ bằng 1/12 diện tích London và 1/8 diện tích Berlin. Bên ngoài nội thành là các khu ngoại ô rộng lớn lộn xộn xen kẻ các khu dân cư lọt thỏm ở giữa, các quần thể kiến trúc khổng lồ, những trung tâm thương mai vô tận, và cả những khu đất hoang bị lãng quên. Chưa kể thời gian đi lại di chuyển điên rồ và sự chênh lệch về kinh tế một cách nghiêm trọng. Về tổng thế, như Winy Mass kết luận thì Paris tổng quan là « một thành phố xấu xí ».

Chuyên gia kỳ cựu trong lĩnh vực quy hoạch ngoại ô, Roland Castro kết luận “cần phải xóa bỏ thứ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong quy hoạch. Đảm nhận một công việc nghiêm túc, chúng tôi phải thực hiện lại ở tầm lớn hơn dụ án « bình định đô thi » đã thành công bởi Haussmann ở nội ô Paris, với một không gian công công bình đẳng và cùng sẻ chia hơn ».

Paris xanh

Paris tương lai trong mắt của các kiến trúc sư sẽ là một « Paris xanh », kết thúc thời kỳ thống trị của xe hơi và sự chi phố của nó đối với toàn thể các chính sách đô thị. Ở ngoại ô cũng như trong các trung tâm nội đô sẽ đa phần sẽ là các loại xe hơi dùng điện, xe đạp và các phương tiện giao thông công cộng. Màn đêm buông xuống, dưới ánh sáng của những ngọn đèn đường tiết kiệm năng lượng là những đoàn tàu điện dùng vận chuyển hàng hóa từ các bến bãi lưu trữ ở ngoại ô thành phố. Cải cách hệ thống vận chuyển này giúp giảm bớt diện tích của đường giao thông nhường chỗ cho diện tích các công viên, quảng trường và đường dành cho người đi bộ. Giảm thiểu tiếng gầm rú của động cơ ô tô, sự ngột ngạt của khí thải sẽ giúp Paris trở nên dễ chịu hơn.


Đề án của Roland Castro

Cuộc cách mạng xanh tiếp tục được thực hiện ngay cả trong lòng đất « Ngay dưới lòng đất của các công viên, chúng ta có thể kết hợp xây dựng các trung tâm xử lý rác thải cũng như sản xuất điện và cung cấp nhiệt sưởi ấm. » Richard Rogers khuyến nghị. Không dừng lại ở đó, nếu chúng ta ngước đầu lên, điều kì diệu sẽ còn tiếp tục : Trên những mái nhà kiểu mới màu kẽm của kinh đô ánh sáng xen kẻ hàng loạt những tấm pin năng lượng mặt trời, kèm theo là những « tấm thảm xanh » của những khu vườn treo lớn sẽ thu nhận nước mưa và tạo thành lá phổi xanh của thành phố ngay giữa hàng loạt những trạm phát điện gió mini.

Những tòa nhà cao tầng ở đường chân trời.

Dưới ngọn chì của Jean Nouvel, Paris vào năm 2030 sẽ có tầm cao mới. Những tòa nhà cao tầng kiểu mới vươn lên bầu trời thủ đô thành những trục lớn xung quanh vùng ngoại ô. Những điểm nhấn đô thị này hướng tới việc tạo ra bộ mặt mới cho thành phố, một dáng hình vừa xa lạ vừa quen thuộc, vừa thanh mảnh vừa to lớn. « Di sản của chúng ta bao gồm những yếu tố về chiều dọc- những tháp chuông nhà thờ, tháp nước, lâu đài có thể là cảm hứng cho những tòa cao ốc mới ». Jean Nouvel nhấn mạnh. Những tòa nhà cao tầng kiểu mới thực sự là khuôn mẫu cho sự phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa khu dân cư với văn phòng và sản xuất năng lượng, bao quanh là những khu vườn rộng mở.

Một trăm bốn bảy tòa cao ốc đã có lâu nay ở Paris sẽ được tân trang lại. Biểu tượng của thủ đô Paris, tòa tháp Montparnasse sẽ được sửa chữa và trang trí lại phần đỉnh tháp theo đề xuất của Frank Gehry và xây thêm ba cao ốc khác liền kề nhằm giảm bớt sự đơn độc và tầm thường của tòa tháp cao hơn 200 mét này.

Khoác áo cho bầu trời chỉ là một phần nhỏ, người ta còn có thể dạo bộ trên đó. « Những ban công kiểu Paris » được đề xuất nối liền các tòa tháp, nhô ra các công viên và chạy dọc các khu phổ mới, giống như đã có sẵn ở khu Batignolles. « Đó là những khu sân ở trên cao và rộng rãi, với những phố dạo bộ rộng 30m, nhiều tầng khác nhau và kéo dài cũng như nối liên các tòa nhà và các công trình khác, tạo nên một kết cấu không gian công cộng mới và một nhịp điệu đô thị khác ».

Một nhà ga lớn Bắc Pháp- Châu Âu.

Tại bốn phương của « Đại paris », những nơi cao báo hiệu trên bầu trời vùng Ile-de-France những trung tâm mới của vùng, sẽ làm cân bằng về mặt địa lý và kinh tế của cả vùng rộng lớn : Massy và vùng cao nguyên Saclay, khu Bourget và Roissy, Orly và Rungis, cảng Gennevillier, công vinee La Courrneuve…Aubervilliers, nơi sẽ xây dựn các khu cao ốc tạo thành phố thương mại được dựng nên cạnh một nhà ga mới toanh, nhà ga Bắc – Châu Âu, sẽ nối liền Paris với London, Bruselle, Rotterdam và Francfort.

« Paris có may mắn trở thành ngã tư của hệ thống đường sắt cao tốc, nhưng các nhà ga hiện có (gare miền Tây và ga miền Bắc) không cho phép tạo nên một trung tâm thực sự » kiến trúc sư Christian de Portzampars nhận xét. Để vận hành hiệu quả, một trung tâm giao thông đường sắt như vậy cần có một trung tâm hội nghị, các khách sạn tiêu chuẩn, các văn phòng với đầy đủ dịch vụ cần thiết. Phải có nơi để mọi người có thể gửi xe và con cái của họ ở đó cả ngày- Đó là lý do cần phải chuyển các nhà ga hiện nay tới Aubervilliers, cũng như điều chỉnh các hoạt động kinh doanh về hướng Đông Bắc thay vì tập trung tất cả vào khu La Défense, và hoàn thiện việc phát triển khu Plaine-Saint- Denis.

Việc quy hoạch lại hệ thống nhà ga này cũng có ưu điểm lớn là sẽ tạo thêm các đại lộ mới và các công viên lớn khi chuyển đổi các nhà ga cũ và hệ thống giao thông đường sắt hiện có.

Những công trình rải rộng khắp.

Bên cạnh các nhà ga, vào năm 2030, thủ đô nước Pháp sẽ phân bố lại các công trình kiến trúc và các kết cấu hạ tầng khác trải rộng khắp trên toàn bộ lãnh thổ. « Paris cần phải thể hiện một chính sách đô thị mới thông qua việc xây dựng các công trình văn hóa ở vùng ngoại ô » Roland Castro kiến nghị. Để đáp ứng nhu cầu giải trí cuối tuần cũng như dã ngoại của học sinh, các công trình lớn sẽ được xây dựng ở vùng ngoại ô như viện bảo tàng tưởng niệm thế giới, hội chợ triển lãm Gênse, nhà hát… Những công trình này sẽ phần nào giảm bớt sự thiếu hụt các công trình văn hóa ở các khu ngoại ô.

Chính phủ sẽ làm gương trước tiên. Khoảng hai mươi cơ quan cấp bộ và các cơ quan hành chính lớn sẽ chuyển tới Créteil, Clichy, Sarcelles và Gennevilliers. « Phân bổ lại các bộ ra vùng ngoại ô điều đó cũng giúp ích cho việc tạo ra lợi ích công cộng ở khắp nơi », Roland Castro lập luận. Biểu trưng cho quá trình này sẽ là trụ sở của « Đại Paris », một tòa nhà tiết kiệm năng lượng và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường được xây dựng tại điểm hợp lưu của sông Seine và sông Marne.

Những khu ngoại ô nhân văn hơn.

Dĩ nhiên quan trọng hơn việc thiết lập những công trình khổng lồ là việc mỗi km lãnh thổ phải được chăm sóc để tạo cho nó một bộ mặt đô thị : Mạng lưới đường phố và đại lộ chạy dọc các khu dân cư cho phép lưu thông từ khu vực này sang khu vực kia môt cách thuận tiện. « Mạng lưới đường cao tốc và đường sắt đã có làm gia tăng thêm nhiều hố ngăn cách và làm cho lãnh thổ bị chia cắt đứt đoạn » Christian de Portzamparc phân tích. Để khắc phục người ta sẽ thiết lập các cầu vượt và hầm dành cho người đi bộ xuyên qua các đường quốc lộ, đường cao tốc cũng như đường sắt.

Những khu dân cư rộng rãi.

Vào năm 2030, người dân Paris có thể cư trú ở mọi nơi trên toàn bộ thủ đô. Lâu nay người dân thủ đô luôn đối mặt với giá nhà đất cao nơi đây và buộc phải sống chuyển ra sống ở các vùng rất xa trung tâm. 20 năm tới tình trạng này sẽ được khắc phục, khoảng 60.000 chỗ ở được tạo ra hằng năm. « Đại Paris » vào năm 2030 sẽ có thêm 1.5 triệu dân so với năm 2009. Người dân có thể xây nhà ở khắp mọi nơi và nhờ thế làm hạ giá nhà đất bằng 2 nguyên lý đơn giản : Làm cho giá đất rẻ hơn thông qua tăng nguồn cung và xây dựng nhà cửa ở những khu vực lâu nay người ta cho là không thể.

Để làm được đó, kiến trúc sư Yves Lion cho rằng « chúng ta phải chấp nhận việc dân cư sống gần các khu vực đường sá, giống như những gì mà người Hà lan đã làm thay vì buộc dân cư sống cách xa các khu vực này như lâu nay. Để làm điều này, người ta kiến nghi bãi bỏ quy định mang tên Dupont vốn cấm xây dựng trong vòng 100m kể từ các con đường có mật độ lưu thông cao. « Người ta hoàn toàn có thể xây dựng ở nhưng nơi có nguy cơ lũ lụt, cần phải chấm dứt nguyên tắc phòng ngừa vốn chỉ giúp ích cho các ông tỉnh trưởng ăn no ngủ kỹ ». Roland Castro nói thêm.

Hạn chế sử dụng xe hơi.



Giao thông nội đô Paris tương lai của Rogers Stirk Harbour

Sẽ có khoảng 270km2 đất lâu nay là những con đường chật đầy xe cộ sẽ được chuyển đổi thành các đại lộ có cây xanh thuận tiện cho người đi bộ chạy dọc theo các khu dân cư, trên các con đường « kiểu mới này » sẽ cùng lúc có tàu điện xe đạp cùng song hành với xe hơi.

Người ta cũng sẽ sử dụng xe hơi ít đi bằng cách tăng thêm các khu vực cấm xe hơi và tăng giá xăng đồng thời khuyến khích dân chúng sử dụng các phương tiện giao thông sạch khác. Sự bùng nổ của mua sắm thông qua mạng internet làm nảy sinh thêm hàng trăm trung tâm giao hàng trở thành các trung tâm tập trung của các khu dân cư. Một mô hình phỏng thoe konbini của Nhật, hệ thống ác siêu thị nhỏ dựa trên dây chuyền phân phối được cấu trúc tốt và tin học hóa giảm thiểu việc vận chuyển. Người ân có thể đi mua sắm thông qua việc lướt web, trả tiền và nhận hàng mà không cần phải di chuyển.

Đến năm 2030, việc di chuyển bằng ô tô trong khu vực Paris sẽ giảm đi đáng kể. Thông qua quá trình cơ cấu lại các trung tâm kinh tế và hệ thống giao thông công cộng. Kế hoạch này liên quan đến việc xây dựng một hệ thống tàu điện ngầm chạy xung quanh thành phố Paris và nối liền các trục kinh tế, như là Roissy, Orly, La Defense, v.v…

Nhiều tuyến xe "lộ thiên" trong mắt của kiến trúc sư Christian de Portzamparc


Nhiều tuyến xe "lộ thiên" trong mắt của kiến trúc sư Christian de Portzamparc

Có tên là "Grand Huit" và dài khoảng 130 cấy số, hệ thống métro này sẽ nối kết tất cả các trạm chót của các đường tàu điện ngầm và xe bus có sẵn. Số tiền đầu tư vào dự án này là 21 tỷ đôla.

Dự án « Đại Paris » cũng sẽ trả lại cho thiên nhiên vị trí xứng đáng của nó thông qua việc tăng thêm các công viên và hồ nước tại thủ đô và vùng phụ cận. Chính quyền cũng cho phép người dân thành phố trồng cây ở những khu vực có thể. Ngoài ra còn thiết lập một vành đai rừng cũng như các khu vực nông nghiệp ngay trong thành phố, « Nông thôn không còn được xem như là sự kéo dài tự nhiên của thành phố cũng như không đơn thuần là một nơi để nghỉ ngơi giải trí mà đó phải là một bộ phận không thể tách rời của không gian đô thị và của nền kinh tế đô thị » Yves Lion giải thích. Để đạt được mục tiêu này, các nhà hoạch định dự án đưa ra tiêu chỉ khai thác sử dụng bền vững các khu rừng của thủ đô. Theo đó đến năm 2030 diện tích rừng của vùng sẽ tăng thêm 30%, với 1400km2 rừng được tăng thêm bổ sung cho 4500km2 hiện có sẽ tạo cho Paris và vùng phụ cận một thảm thực vật rộng lớn góp phần cung cấp gỗ để sưởi ấm vào mùa đông cũng như làm vật liệu xây dựng…góp phần chống lại các ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu.

Paris xanh của Finn Geipel

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2009

Không còn những chia ly và xa cách

Khi nữ ca sĩ Nam Hàn Lee Sun Hee hát bài "gửi tổ quốc tươi đẹp" trước hàng ngàn khán giả Bắc Triều Tiên xem trực tiếp tại Nhà hát Bình nhưỡng (là công trình quà tặng của chính phủ Nam Hàn) và hàng triệu người Triều Tiên theo dõi qua màn ảnh vô tuyến, chắc hắn trong trái tim của cô "tổ quốc tươi đẹp" không chỉ là nước Đại Hàn dân quốc với biên giới phía Bắc là vĩ tuyến 38. Giới tuyến của sự chia cắt, đau thương và hận thù !
Tổ quốc tươi đẹp của cô và hàng triệu triệu người đang sống trên bán đảo Triều Tiên vẫn đang bị chia cắt, không phải bởi sự chia ly xa cách trong tâm tưởng mỗi người dân mà trước hết bởi ở những toan tính của những người lãnh đạo quốc dân. Vì suy cho cùng, người dân ở đâu cũng khao khát về một tổ quốc đẹp tươi và hùng mạnh.
Những diễn tiến gần đây ở bán đảo Triều Tiên cho thấy con đường thống nhất Nam Bắc còn lắm chông gai, và Korea is One sẽ vẫn là khẩu hiệu chính trị đẹp đẽ và đích đến của dân tộc này trong một khoảng thời gian dài.

Cách đường giới tuyến dày đặc bom mìn và binh lính và hàng triệu trái tim con người vẫn đau khổ vì chia ly hơn 50 năm không gặp mặt. Những khuôn mặt đầy nước mắt của những người có được may mắn đoàn tụ trong mấy ngày ngắn ngủi được tổ chức bởi các nhà chính trị như một sự hào phóng và ban ơn dẫu sao vẫn khiên người xem không khỏi xúc động và bùi ngùi.

Hãy xua tan đi những thù hận và toan tính chia ly lòng người để khẩu hiệu Korea is One là một điều có thật và hiển nhiên.

Mới thấy được hạnh phúc của ngày 30.04 mang lại, dẫu còn nhiều khó khăn, nhiều đau xót và đây đó vẫn còn nhưng chia ly do những cố chấp do quá khứ để lại. Để người Việt Nam từ cực bắc Lũng Cú tới Cà Mau có thể gặp nhau một cách tự do, có thể nói một cách chân thật và bình thường rằng : Vietnam is One, chúng ta là anh em một nhà.

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

Di sản hình thành như thế nào ?

Thông thường, sự ra đời của một di sản đăc trưng bởi 3 bước : Bước thứ nhất là bước phát sinh, tức là giai đoạn khi xã hội sản sinh ra thứ mà nó cần, bước thứ 2 là bước nhận thức về di sản vốn thường được thực hiện dựa trên một sự chuyển hóa về mặt giá trị vốn hiện hữu bên ngoài lợi ích ban đầu mà vật thể đã tạo ra từ trước, cuối cùng, bước thứ ba là khi vật thể chiếm được một bản sắc mang tính di sản, chứng thực bằng quy chế quản lý mang tính công cộng của nó.

Vật thể đó dành được một giá trị mang tính di sản theo nghĩa bằng một quá trình thông qua (chấp nhận) gọi là sự chiếm giữ, sự chiếm giữ này biểu hiện qua sự hiện diện của một số tiêu chỉ được áp dụng (đề ra) bởi những người trung gian là đại diện (hiện thân) của một bộ phận hay toàn bộ dân cư. Sự áp dụng các tiêu chuẩn dù mang bản chất rõ ràng công khai hay ngầm ẩn bởi những người đại diện này, ví dụ như quá trình chiếm hữu tạo ra hiện tượng gọi là « di sản hóa ».

Chính thông qua sự chuyển tiếp từ bước 2 sang bước 3 mà ý tưởng về di sản được nảy sinh. Nó liên quan đến 3 gian đoạn có nhịp điệu khác nhau, và được thược hiện bởi những chủ thế khác nhau.

Di sản không tồn tại như một cái có sẵn. Toàn bộ tài sản của một thế hệ muốn chuyển tiếp cho thế hệ sau thông qua một quyết định. Đó là kết quả của một sự lựa chọn của sản xuất con người, của một thoả ước như Jean Michel Leniaud định nghĩa, là một thỏa ước xoay quanh di sản giữa một xã hội cụ thể và vật thể mà người ta nhận thấy có một lợi ích hoặc là toàn cầu hoặc ít ra là mang tính tập thể. Kết quả là khi lợi ích về mặt lịch sử hay nghệ thuật đó không còn được chia sẽ bởi phần lớn dân cư thì quy chế di sản (bảo tồn và bảo vệ) có thể bị xét lại với những hệ quả kéo theo nó.

Một đối tượng được xếp vào hàng di sản khi nó từ bỏ giá trị sử dụng thông thường để được sử dụng cho một giá trị mang tính di sản. Động tác biến đổi này dựa trên một số tiêu chí vốn tạo nên một tập hợp giá trị mà chúng ta từng bước nhận ra theo dòng thời gian. Người ta bảo tồn và tôn vinh giá trị của một vật thể hay một công trình bởi vì vật đó mang đến một biểu tượng đặc biệt hơn so với những vật thể khác.

Thứ trở nên quan trọng qua hiện tượng « di sản hóa » đó chính là một mối quan hệ chắc chắn về thời gian và kí ức, vốn được thể hiện như một mối quan hệ được định hướng về mặt văn hóa. Một mặt, việc bảo tồn di sản hướng nó thoát khỏi những tác động của thời gian, mặt khác, chuyển hóa giúp nó thoát khỏi sự quên lãng. Quá trình này, trước tiên bằng sự lựa chọn rồi bằng sự hợp pháp hóa có đặc trưng bởi tính bộ phận, có nghĩa là người ta không lưu giữ toàn bộ ký ức, mà chỉ là các mảnh ghép của ký ức. Hệ quả là ký ức mà người ta truyền đạt là « một ký ức được tạo nên căn cứ vào các cụm biểu tượng (về cái đẹp, cái tốt, về bản sắc..vv) liên quan đến một địa điểm và một thời kỳ.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2009

Comment se forme le patrimoine

D’après Colardelle[1], la naissance d’un patrimoine est généralement caractérisée par trois étapes : La première, spontanée, est celle où la société produit ce dont elle a besoin ; la deuxième est celle de la prise de conscience, qui s’exerce en général en faveur d’une mutation qui place hors du champ utilitaire initial l’objet produit précédemment ; enfin, la troisième est celle où cet objet a conquis une identité patrimoniale, qui justifie son statut de gestion collective. L’objet est affecté d’une valeur patrimoniale au terme d’un processus d’adoption qui s’appelle appropriation ; cette appropriation se révèle en présence de certains critères qui sont appliqués par des médiateurs, qui personnifient tout ou partie de la population. L’application des critères, aussi bien de nature explicite qu’implicite, par les médiateurs, à savoir de la procédure d’appropriation, donne lieu au phénomène de la patrimonialisation. C’est dans le passage de la deuxième à la troisième étape que naît l’idée de patrimoine. Il s’agit de trois temps qui ont des rythmes aléatoires, et qui mettent en présence des acteurs très différents.

Le patrimoine n’existe pas comme une donnée a priori. L’ensemble des biens qu’une génération veut transmettre à la suivante résulte d’une décision, c’est le résultat d’un tri dans la production humaine, d’une convention comme le définit Jean-Michel Leniaud[2] ou comme le rappelle Pascal Ory[3], d’un contrat social autour du patrimoine entre une société donnée et un objet auquel on reconnaît un intérêt, sinon universel, du moins collectif. Il s’ensuit que lorsque cet intérêt historique ou artistique n’est plus partagé par la plupart de la population, son statut de patrimoine (la conservation, la protection) pourrait apparaître à la société comme révisable, avec les conséquences qui s’ensuivent.

Un objet rentre dans le patrimoine dès qu’il perd sa valeur d’usage pour se voir affecter une valeur patrimoniale. Ce mouvement d’entrée repose sur certains critères qui constituent un corpus de valeurs, dont on a pris peu à peu conscience au fil des générations. On conserve et l’on met en valeur une œuvre ou un objet parce que cela donne une représentation de soi spécifique par rapport aux autres. L’objet d’appropriation se transforme en instrument de communication.

Ce qui devient important à travers le phénomène de patrimonialisation, c’est un certain rapport au temps et à la mémoire, qui se présente comme un rapport qui est culturellement orienté. D’un côté, la conservation du patrimoine vise à le soustraire aux effets du temps ; de l’autre, la transmission, à le soustraire à l’oubli. Ce processus, tout d’abord de choix et ensuite de légitimation, a comme caractéristique d’être partial, c'est-à-dire qu’on ne garde pas l’intégralité de la mémoire, mais seulement des morceaux. Il s’ensuit que la mémoire que l’on transmet, est « une mémoire construite en fonction d’un faisceau de représentation (du beau, du bien, de l’identité, etc.). liées à un lieu et à une époque.

La notion de patrimoine évolue en fonction du développement de la culture qui impose des critères réévalués dans la sélection des éléments patrimoniaux[4]



[1] Cf. Colladelle M. (1998), Les acteurs de la constitution du patrimoine », in Le Goff J. (sous la présidence de),

[2] Cf. Leniaud J.-M (1992), L’utopie française, Paris, Edi. Mengès, p. 5.

[3] Ory P. (1991), «De la nécessité du patrimoine » in Ory P/ (sous la direction de), De l’utilité du patrimoine : actes des colloques de la Direction du patrimoine, Paris, Ministère de la culture, Picard, p.239, note 37.

[4] VECCO (M.), Economie du patrimoine monumental, p.18.

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2009

Tales

Dạo này lười quá không cải thiện được bệnh lười và sắp xếp thời gian không hợp lý cố hữu.
Có khi cả ngày ngồi ôm sách và máy tính đến mờ cả mắt nhưng không được chữ nào vào đầu, toàn làm những việc vớ vẩn vô tích sự. Đọc sách không vào lắm nên lại mò vào mấy diễn đàn đọc bài vớ vẩn, mà món này thì lấy thời gian rất nhanh. Thành thử một ngày trôi đi rất nhanh, và một tuần cũng vậy. Cuối cùng là thời gian trôi đi một cách uổng phí.
Có lẽ mình không thích hợp với việc nghiên cứu vì tính không phải là kẻ chịu khó và cần cù mà toàn làm việc theo kiểu cảm hứng. Học hành kiểu này ở Việt Nam rất dễ lấy điểm cao nhưng ở nhưng nơi đòi hỏi sự nghiêm túc là chết. Thằng cha giáo sư cũng bảo "tôi biết cậu là người de qualité (có năng lực, he he) nhưng có vẻ không chăm chỉ. Hihi, chăm chỉ + với thông minh nữa thì bố học làm gì cái ba thứ vở vẩn này hả ông?

Nhìn đi nhìn lại thì thấy đúng là mấy năm qua kiến thức chẳng thu được gì mấy ngoài ba thứ vở vẩn và tuổi tác ngày càng đè nặng lên vai.
Khuyên người khác thì rất dễ nhưng để cải tạo chính bản thân mình thì bao giờ cũng khó hơn cả. Thôi từ nay cố gắng sửa dần.
Có lẽ nên dần tạm biệt mấy thú vui như báo mạng hay blog. Hẹn một năm sau sẽ quay trở lại vậy.

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009

Sakura

Đọc báo thấy bên Nhật đã đến mùa hoa sakura nở, thậm chí bên Thượng Hải nước Tàu còn có cả một phố trồng toàn anh đào, nở trắng cả một góc trời.
Trưa nay từ nhà lên thư viện tình cờ thấy trong trường mình cũng có mấy cây hoa anh đào, không biết được trồng từ lúc nào, nhưng nở trăng xóa.

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2009

Tathy

Mấy hôm mệt nên lười học, ngựa quen đường cũ chạy vô Thăng Long xa vợ chém gió ăn tục nói phét.

Tathy đúng là ngày càng lắm bọn chim lợn, đầu đất chạy vô tham gia dường như để lấy mác. Mấy đứa con gái thì ăn rồi chỉ post ba cái ảnh linh tinh ngớ ngẩn hoặc nói phét về quần áo, nước hoa. Còn mấy thằng em chả rỗi hơi thì thấy topic nào cũng bâu xâu vào viết vài ba câu nhăng cuội. Đã dốt nát lại còn mất dạy và cãi cùn cãi cố.

Tự nhiên có hứng cãi nhau chuyện không phải của mình, thực ra có thể liên quan đến mình và mọi người. Chẳng nhớ đang nói chuyện gì mà tự nhiên quay sang chém gió về cãi cảnh ruộng đất và vai trò của tri thức trong công cuộc cải biến xã hội.

Mấy thằng cực tả đầu đất em chả kiến thức toàn sách vở kiểu báo nhân dân hay chuyện anh Lê Văn Tám vào nổ ầm ầm bảo kê chế độ. Ngợi ca cải cách ruộng đất mang lại ruộng đất cho dân cày và tạo động lực cho người chiến sĩ nơi mặt trận, rồi nào là nhiều thằng địa chủ cũng đáng bị xử bắn.

Trước sau một quan điểm rằng "cải cách ruộng đất là một trong những nhân tố có tác hại ghê ghớm nhất đến lịch sử VN thế kỉ 20, mà thậm chí là cả đến thế kỉ 2 này, vấn đề không phải là giết chết mấy nghìn hay mấy vạn địa chủ cường hào. Mạng người là quan trọng, nhưng cái đó không tác hại lớn bằng chính cải cách ruộng đất đã góp phần lớn và quyết định đưa một lớp nông dân thất học, dốt nát, "đầu đất", tầm nhìn hạn hẹp và cực đoan lên quản lý xã hội". Lớp thất học này lãnh đạo đất nước rồi tạo điều kiện cho lớp con cái, cháu chắt cũng đầu đất tiếp tục nắm giữ vận mệnh đất nước này.
Có mấy thằng ngu lại còn khẳng định rằng, con cái nông dân thông minh không thua gì địa chủ, trí thức. He he.
Sự thật là xác suất để một thằng sinh ra trong gia đình mấy đời làm culi kéo xe giỏi giang thông minh hơn 1 thằng sinh trong 1 gia đình trí thức có truyền thống học rõ ràng là thấp hơn. Bắt chứng minh thì đek chứng minh được bằng số liệu, he he.

Mạn vận cho dân tộc nào nằm trong tay một lũ đầu đất chứ không phải một tầng lớp tinh hoa elit học hành nghiêm túc và bài bản.

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009

Kháp tự nhĩ đích ôn nhu

邓丽君

Cô sinh ở thôn Điền Dương, huyện Vân Lâm, Đài Loan trong một gia đình đại lục quê gốc ở tỉnh Hà Bắc. Tên gọi Lệ Quân là do người cha đặt, dựa theo tên gọi của nhân vật Mạnh Lệ Quân đời nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1963 cô tham gia cuộc thi hát Hoàng Mai Hí và được giải, năm 1967 ra đĩa nhạc đầu tiên và ngay lập tức được ưa chuộng tại Đài Loan. Nhưng ở đại lục giọng hát của cô bị coi là ủy mị và bị cấm đoán. Sau cải cách những bài hát trữ tình của cô mới được nhân dân đại lục đón nhận và hâm mộ. Đặng Lệ Quân được nhân dân Trung Quốc gọi là Tiểu Đặng, cùng với nhà lãnh đạo cộng hòa nhân dân Trung Hoa đương thời là Đặng Tiểu Bình trở thành những cái tên được biết đến nhiều nhất. Hồi đó có câu "Ban ngày nghe Lão Đặng, ban đêm nghe Tiểu Đặng".


Nhu_su_diu_dang_cua_yoump3 (Objet audio/mpeg) - Dang Le Quan

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2009

My wallet

Cách đây 3 tuần quay trở lại Pháp tiếp tục công việc học hành sau gần 2 tháng về Việt Nam ăn Tết. Học hành chán quá nên về nhà cho thoải mái đầu óc và hưởng tí không khí mùa xuân Việt Nam sau nhiều năm xa nhớ.

Vì là số hiếm trong đám sinh viên về nhà vào dip Tết nên ra đi đương nhiên phải mang hộ khá nhiều quà cho bạn bè bên này, gọi là mang chút hơn ấm quê hương sang cho bè bạn. Thôi cũng không nỡ từ chối. Về phần mình thì mua thêm mấy bộ quần áo và mang thứ không thể thiếu là trà xanh. Bên này khó có thể mua được loại trà xanh đúng như ở nhà, chủ yếu người ta bán loại trà đen của Tàu hoặc Ấn độ. Uống cũng không tệ, nhưng gout khác. Mình uống hơi nhiều nên mỗi lần về là phải mang ít nhất 1.5kg sang để dành.

Hành lý cố gắng thu xếp không quá cân so với quy định. Nhưng không chú ý hành lý xách tay nên bỏ vào đó toàn là sách mang về (để đọc nhưng chưa đọc được quyển nào) nên hơi nặng. Làm thủ tục check in xong xuôi, cùng mấy người lên lầu 3 Nội Bài ăn cơm và nói chuyện vì vẫn còn thừa khá thời gian. Lúc kéo valise vào để lên máy bay thì lù lù đâu ấy ông hải quan để sẵn một cái cân điện tử bắt hành khách phải cân cả hành lí xách tay. Valise kéo tay của mình tận 13 kg. Mà các bố này bảo chỉ được mang không quá 7kg.
Thật là vớ vẩn quá, vì thường xách tay thì không quá khổ là được, cùng lắm là trong vé quy định không quá 12kg như bọn Airfrance hay BA (Nhưng bọn nó cũng không thừa hơn cân bao giờ). Tiêu chuẩn 12kg là hợp lí, đây các bác Nội Bài lại chỉ cho 7kg mà lại không ghi trước vào vé, làm dân tình bỏ những thứ quan trọng vào đồ xách tay hết cả. Nên hầu như ai cũng dở khóc dở mếu. Mình đành phải nhờ ông chú có quen với người ở Sân Bay xin xỏ. Gọi điện đủ các kiểu cho ông này ông nọ rồi năn nỉ em học xa, toàn mang sách thôi, bỏ lại lấy gì em học nhưng các chú vẫn kiên quyết bắt bỏ ra. Đúng là làm việc chí công vô tử theo tinh thần nhà nước pháp quyền. Hihi
Cuối cùng thì đành vác hành lí thừa ra gửi thêm một cục theo máy bay, được cái mấy em làm ở quầy check in rất dễ tính, thậm chí không lấy cả lệ phí, chắc thương sinh viên nghèo học dốt đây.

Cuối cùng thì mọi thứ cũng xong, nhưng mất khá thời gian thành thử vào máy bay vội vàng lại ghé quầy thuốc lá mua cho ông bạn 1 cây thuốc.Cũng vì vội mà mới có chuyện để kể đây.
Mua thuốc xong ung dung lên máy bay ngồi, lôi nhạc ra nghe đợi máy bay cất cánh thì chợt có đồng chí an ninh sân bay chạy vào tận ghế hỏi "ai là anh N.Q", xong đưa cho mình cái ví. Híc, thậm chí chỉ kịp nói cảm ơn anh kia là anh ấy xuống luôn, sau đó 2' thì máy bay cất cánh.

Mình để rơi ví hoặc quên ở quầy mua thuốc, cũng không nhớ, vì đến lúc anh an ninh kia mang vào mới biết. May thật, nếu mà mất ví thì sang lại Pháp hết khổ luôn vì ngoài thẻ ngân hàng ra còn hơn chục loại thẻ khác từ thẻ thư viện, thẻ nhà ăn đến thẻ bảo hiểm y tế... Cái nào cũng quan trọng, làm lại được cũng mất rất nhều thời gian.

Thật may là vẫn còn những người tốt mang trả, trong ví mình ngoài một số lượng nhỏ tiền VND còn có một số tiền khác nhé. Hơn hết cái ví này đã theo mình suốt gần 10 năm qua với biết bao kỉ niệm.

Cái ví da rất bền có nhãn Johnnie walker vì hồi năm 1 ĐH papa mua chai rượu Johnnie mở ra có cái ví khuyến mãi, cho mình dùng luôn, sinh viên tích cực xài đồ tặng cho. Hihi, nhưng công nhận là rất bền, 10 năm (tháng 9 năm 2009 sẽ đúng 10 năm thành sinh viên) nhưng không hề bị đứt chỉ hay rách, chỉ hơn sờn 1 tẹo ở chỗ gấp.

Tính cả hôm ở sân bay nữa thì đúng 3 lần rơi (mất ) cái ví này:

Lần thứ nhất là năm cuối Đh, đi xem bóng đá ở quán gần nhà trận chung kết cúp C1, rơi chính ở đó nhưng thằng chủ quán mất dạy nói là có thằng nhặt được ngoài đường và bắt mình bỏ tiền ra chuộc mấy trăm nghìn đồng thời số tiền có trong ví bị mất sạch. Thằng chủ nhà này rất khốn nạn sau khi lấy xong ví (vì có nhiều giấy tờ quan trọng như CMND và bằng lái xe), mình đã chửi thằng vào mặt nó dù mình vốn là thằng rất ít khi có đủ dũng cảm để nói những lời nghiêm nghị với nguoi hơn tuổi. Mình cáu lên bảo "anh thật tử tế, dám bịa chuyện để gạt và lấy tiền em, em không bực vì chuyện tiền mà bực vì anh và em biết nhau cả năm trời mà anh còn làm thế. Em tin vào nhân quả lắm, rồi đời con cái anh nó cũng chẳng khá hơn anh được đâu". Nghe đâu giờ chú này vẫn thế, thằng con trai càng lớn càng bố láo.

Lần thứ hai là bị móc ví ở trên tram ở Bordeaux. Mất ví làm mình phải báo với ngân hàng ngay để nó đóng tài khoản và mãi mới có card mới, 2 tuần không có tiền xài. Hết khổ! Sau đó ông già bạn người Pháp nói là ở đây có 1 trung tâm quản lí đồ rơi và thất lạc ( service des objets trouvés, thành phố nào cũng có, do cảnh sát quản lí) mày lên tìm xem. Mình lên nhưng không thấy, và để lại tên tuổi kèm số đt, 2 tuần sau thì người ta gọi lên lấy lại ví. Đúng ví của mình và mọi giấy tờ vẫn nguyên, đương nhiên tiền thì mất hết. Nói thêm là người ta làm việc này hoàn toàn miễn phí.

Lần thứ 3 thì như đã kể ở trên. Cũng thật khó tin vì người ta mang vào tận máy bay trả ngay trước lúc máy bay cất cánh.

Xã hội Việt Nam có nhiều điều nhức nhối và vô lí, nhưng đó đây vẫn có những điều tử tế, đáng để hi vọng dù nhỏ nhoi.

Cũng có thể khi mở ví mình ra xem người ta nhìn thấy bức ảnh đen trắng chụp một người con gái rất dịu dàng, dễ thương, với đôi mắt buồn nhìn xa xa vô cùng thánh thiện thuần khiết khơi dậy được lòng tốt và tử tế ở người đối diện chăng?

Người con gái đã ở một nơi rất xa ấy, người khi nghĩ về đều mang đến cho ta 2 thứ cảm xúc song hành: Niềm thương cảm chua xót lẫn sự ấm áp dịu dàng thẳm sâu nơi trái tim vốn ngày càng ít ỏi...


Cũng có thể người ta mang ví trả lại cho mình chỉ đơn giản là một việc người ta vẫn làm thôi.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2009

"Ensemble des aspects intellectuels, moraux, matériels des systèmes de valeur, des styles de vie qui caractérisent une civilsation".
Văn hóa là tập hợp những phương diện trí tuệ, đạo đức và vật chất của những hệ thống giá trị và lối sống tạo nên đặc trưng của một nền văn minh

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2009

Chán

Thời gian trôi nhanh quá.
Một tuần trôi qua cái vèo. Và thế là gần 3 tuần quay trở lại Pháp sau gần 2 tháng chơi bời ở nhà.
Tuần vừa rồi đã gặp giáo sư để bàn chuyện luận văn. Mọi việc có vẻ ổn, nếu theo đúng lịch trình thì hè 2010 là mọi thứ xong xuôi, xem như kết thúc sự nghiệp học hành. Nhiều người nghĩ như thế là học xong lúc còn khá trẻ, nhưng trẻ gì nữa, 28 rồi.

Học ĐH từ lúc 17 tuổi, học xong thì mất 1 năm vật vờ học Master ở nhà đợi học bổng sang đây, sang rồi thì lại đổi ngành học khác, mất thêm 1 năm nữa. Thesis thì cứ ấm ớ không chịu viết nên mãi chẳng xong.

Nói chung là cứ lập ra plan gì là y như rằng không thực hiện được. Đúng là kiểu người của những sự tình cờ.
Bắt đầu viết những trang đầu tiên của luận văn mới biết và sửng sốt là hơn 2 năm qua không làm được gì cả, ăn rồi mơ màng linh tinh với những chuyện vớ vẩn chẳng đâu vào đâu. Mà hình như thằng nào làm PH.D cũng mất khá nhiều thời gian vô bổ kiểu này thì phải. Tính mình ham chơi nên lại càng mất nhiều hơn.

3 tháng nữa phải hoàn thành 100 trang đầu tiên để nộp cho giáo sư. Nghĩ thì đơn giản lắm nhưng có lẽ 3 tháng này là quảng thời gian khủng khiếp nhất của đời học sinh 20 năm của mình. OMG!

Hôm trước nói với giáo sư là "tao đã ở cuối đường hầm rồi, chỉ còn mỗi nước tiến lên thôi". Tiên sư lão già còn động viên với khen vớ vẩn "Tao nghĩ mày rất có năng lực, vấn đề là đôi khi bị cản trở bởi nhũng vấn đề cá nhân". Gặp ông giáo dễ tính thì có vẻ sướng nhưng điều này lại làm hại thằng luời như mình. Suốt năm suốt tháng toàn bịa ra lý do để chơi bời với làm những việc vớ va vớ vẩn. Chẳng có thằng khùng nào 2 năm làm Ph.D mà về nhà chơi 3 lần cả.

Cuối tuần lên in ít tài liệu thì máy in ở labo bị khùng không chạy được từ máy tính mình. Trong khi từ máy của mấy phòng bên cạnh thì vẫn chạy tốt. Gọi điện và viết mail cho bọn IT của trường thì bọn nó bảo sẽ sửa nhanh nhất có thể. Thật là tốn thời gian, đành in bằng máy in của riêng, máy in màu nên tiền mực đắt hơn tiền máy.

Thôi, tạm viết đây ít dòng tự động viên bản thân. Một tuần mới làm việc chăm lên đi không thì chết chìm mất.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2009

BIBLIOGRAPHIE

Bibliographie

Ouvrages, études et thèses

  1. ABOU (S.), L’identité culturelle, Hachette, 1995.
  2. A.L DROZ (G.), « La protection internationale des biens culturels et des objets d’art, vue sous l’angle d’une convention de droit international privé ». La vente internationale d’œuvres d’art, Institute of International Business Law and Practice, International Chamber of Commerce, Faculté de Droit de Genève, colloque de Genève 11-13 avril 1985, Genève 1987, p. 535 et s.
  3. ASSOCIATION HENRI CAPITANT, La protection des biens culturels (journées polonaises), Tome XL, 1989, Economica Paris, 1991.
  4. ANNE-MARIE (A.), Politique culturelle et mondialisation.
  5. ARJUN (A.), Après le colonialisme, lé conséquences culturelles de la globalisation.
  6. ALAIN (D.), KAREN (B.), Une autre mondialisation en mouvement.
  7. BABELON (J.P.), CHASTEL (A.), La notion de patrimoine, Paris, Lianna, 2004.
  8. BADY (J.P.), Les monuments historiques en France, PUF, 1988, 2° éd.
  9. BELL (J.), « Comparing Public law » in HARDING (A.) örücü (E.) ed., Comparative Law in the 21 st Century, Kluwer Law International, 2002.
  10. BOUCETTA (A.), Le statut du patrimoine culturel en droit international, contribution à l’étude de la notion de patrimoine culturel de l’Humanité, Thèse pour le doctorat en droit nouveau régime, Aix- Marseille III, 1989.
  11. BRICHET (R.), Le régime des monuments historiques en France, Librairies Techniques, 1952.
  12. BRUNSVICK (Y.), BADY (J-P.), CLERGERIE (B.), Lexique de la vie culturelle, Dalloz, 1987.
  13. CHOAY (F.), L’allégorie du patrimoine, Paris, Seuil, 1999
  14. CHARLES- ALBERT (M.), Mondialisation, la grande rupture, éditions la Découverte, Paris, 2007.
  15. COLOMBET (C.), Propriété littéraire et artistique, Précis Dalloz, 5e éd., Paris, 1990.
  16. COMMISSION DES COMMUNAUTES EUROPENNE, Communication de la Commission au Conseil relative à la protection des trésors nationaux ayant une valeur artistique, historique ou archéologique dans la perspective de la suppression des frontières intérieures en 1992, réf Com (89) 594 final, 22 novembre 1992.
  17. COMMISSION DES COMMUNAUTES EUROPEENNE, Rapport sur la libre circulation des œuvres d’art dans la Communauté, réf III B 1610. 87.
  18. CONSEIL DE l’EUROPE, La protection juridique internationale des biens culturels, Actes du XIII colloque de droit européen, Delphes 20-22 septembre 1983, Strasbourg, 1984.
  19. DUQUESNE (J.), Le régime des échanges culturels dans l’Europe des neuf, Etude effectuée pour la Commission des Communautés européennes, 1975, références XII/685/75-F.
  20. DUQUESNE (J.), Le régime des échanges culturels dans l’Europe des douze, Etude faite à la demande de la Commission des Communautés européennes, Etude et propositions, novembre 1988, référence X/Culture/15/1988.
  21. DURUPTY (M.), L’Etat et les Beaux-Arts, Thèse pour le doctorat en droit, Université de Bordeaux, Faculté de droit et de sciences économique, 1964.
  22. EDELMAN (B.), La propriété littéraire et artistique, « Que sais-je » (4è éd.), PUF, Paris, 2008.
  23. Gautier (P.-Y.), Propriété littéraire et artistique, PUF, coll. Droit fondamental, Paris, 5ème édition, 2004.
  24. GLADYS (O.G.), Mondialisation/globalisation.
  25. GROUPE DE RECHERCHE SUR LES MUSEES ET LE PATRIMOINE, Patrimoine et mondialisation, l’Harmattan, 2008
  26. JACQUES (T.), Intégrations régionales et mondialisation, Complémentarité ou contradiction, La Documentation française, Paris, 2003.

  1. KOCH (K.), L’application du traité CEE au secteur culturel, Etude Secteur Culturel, Publications des Communautés Européennes, 1975, réf XII/ culturel/ 451/ 75/F.
  2. LA VENTE INTERNATIONALE D’ŒUVRES D’ART, tome II, Colloque international de Genève, Institut of International Business Law and Pratice, International Chamber of Commerce, Faculté de Droit de Genève, Département de Droit International Privé, ICC Publishing S.A., Paris, New York, Kluwer and taxation publishers, Deveuler, Boston, 1990.
  3. MESNARD (A-H.), L’action culturelle des pouvoirs publics, Préface de A. de LAUBAGERE, LGDK, Paris, 1969.
  4. PELLOUX (R.), La notion de domanialité publique depuis la fin de l’ancien droit, Dalloz, Paris, 1932.
  5. POISSON (G.), Les musées de France, « Que sais-je » N°…, PUF, Paris, 1976.
  6. PONTIER (JM.), RICCI (JC), BOURDON (J), Droit de la culture, Précis Dalloz, Paris, 1997.
  7. POULOT (D.), Patrimoine et Modernité, Paris, l’Harmattan, 1998.
  8. STAVRAKI (E.), La convention pour la protection des biens culturels en cas de conflit armé : une convention du droit international humanitaire, Thèse, Paris I, 1988.

Ouvrages généraux.

  1. BUSSON (A.), EVRARD (Y), Portraits économiques de la culture, Notes et Etudes Documentaires, La Documentation française, Paris, n° 4846, 1987-21.
  2. CARROUE (L.), Géographie de la mondialisation, A. Colin, Paris, 2006.
  3. GHORRA (G.C.), Dictionnaire des mondialisations, A. Colin, Paris, 2006.
  4. DAMISCH (J.), Ruptures cultures, Les éditions de Minuits, Paris, 1976.
  5. EMMANYEL (P.), Pour une politique de la culture, Seuil, 1971.
  6. ORY (P.), L’aventure culturelle française, 1845 -1989, Flammarion, Paris, 1989.
  7. GRATALPOUP (C.), Géohistoire de la mondialisation, A. Colin, Paris, 2007.
  8. JEAN- MICHEL (D.), Politique culturelle : la fin d’un mythe, Gallimard.
  9. MICHEL (H.), Le Vietnam en mutation, Documentation française, 1999.
  10. PHILIPPE (D.), Le Viêt Nam face à l'avenir, L'Harmattan, 2000

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009

un jour de printemps avec la fille qui s'appelle "Bonheur"

Một ngày mùa xuân với người con gái mang tên " Hạnh phúc"

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2009

Jun

Dear Jun,
...
Dans cette vie il existe souvent des questions sans réponse, les questions auxquelles qu'on ne trouve jamais leur réponses jusqu'à la fin de la vie. J'espère qu'on peut les comprendre et sentir si on s'aime un peu.

Moi, jusqu'au dernier moment de cette vie, je n'oublierai jamais ta gentillesse et ta sincérité du coeur. C'est un sentiment chaleureux et persuatif qu'on ne peut reçevoir qu'une fois dans cette vie si courte....

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2008

Cải tạo Ba lê dự án

Du khách đến Paris ai cũng gắng một lần bước lên tầng cao nhất của tòa tháp Eiffel uy nghi sừng sững với độ cao 324 mét để tận mắt chiêm ngưỡng toàn cảnh thủ đô nước Pháp, dù có phải chờ cả tiếng đồng hồ xếp hàng dài mua vé. Trong cái giá lạnh của một ngày mùa đông cuối năm, tôi đã hòa mình vào dòng người nô nức cùng đi thang máy lên tầng 3 của tháp, ngắm nhìn kinh đô ánh sáng huy hoàng vào buổi chiều tàn và rực rỡ lung linh khi màn đêm buông xuống. Khách viếng thăm đủ mọi quốc tịch, màu da và ngôn ngữ nhưng chắc chẳn ai cũng đều thôt lên một từ "tuyệt vời" khi ngắm nhìn toàn cảnh Paris từ trên cao.

Paris hấp dẫn du khách bốn phương bởi những đại lộ dài hun hút, những tượng đài, cung điện và công trình kiến trúc hoành tráng mà vô cùng tinh tế. Tất cả kết hợp với nhau hài hòa như bức tranh của một nghệ sỹ tài hoa. Nhìn toàn cảnh Paris từ trên tháp Eiffel mới thấy được sự kì vĩ và duyên dáng của Paris mà không một thành phố nào trên thế giới này có được. Trước khung cảnh tráng lệ say đắm lòng người ấy, ít ai biết được rằng giữa thế kỉ 19, Paris vẫn chỉ là một thành phố mang hơi hướng Trung cổ, một thành phố đậm nét tương phản với những tượng đài kỷ niệm duyên dáng, những công trình lịch sử nằm kề bên các khu nhà ổ chuột. Đó là kết quả của hàng thế kỷ phát triển tùy tiện. Thành phố rất đông đúc vì có quá nhiều dân nhập cư từ các tỉnh tìm đến sinh sống. Paris ngày ấy vẫn chỉ là một thành phố nhỏ ở Châu Âu, không có gì đáng để so sánh với Maldrid, Lisbon và càng không thể đứng ngang hàng với London của đế quốc Anh hùng mạnh.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một cách công bằng rằng ngay từ thế kỷ 17, người ta đã bước đầu tạo nên những nền móng đầu tiên của Paris ngày nay bằng việc ban hành các quy chuẩn căn bản, chặt chẽ và khắt khe về quy hoạch và xây dựng. Thật là khó tin là ngay từ thời đó, với Chỉ dụ năm 1607 và Sắc lệch 1667, chính quyền thủ đô đã thiết lập nên những quy chuẩn đầu tiên về quy hoạch và quản lý đô thị ở Paris. Trong đó, có những quy tắc vẫn còn được áp dụng tới tận ngày nay như giới hạn về chiều cao của tòa nhà mặt phố hay xử lý những tòa nhà mặt phố nhô ra nhằm tạo ra những dãy phố dài và ngăn nắp.

Có thể thấy rằng công tác quy hoạch hiệu quả chỉ có thể được đảm bảo bằng một hệ thống pháp luật chặt chẽ, công minh về quy hoạch và kiến trúc, dựa trên tinh thần thượng tôn pháp luật.

Dù vậy, bộ mặt của Paris thực sự thay đổi và mang dáng dấp của một kinh đô diễm lệ quyến rũ khách thập phương hôm nay chỉ thực sự có được nhờ dự án cải tạo Paris thời Đệ nhị đế chế. Dự án này, hay còn gọi là các công trình Haussmann, là dự án tái quy hoạch và hiện đại hóa thủ đô Paris của Pháp thời Napoléon đệ tam. Dự án lớn này được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1852 đến năm 1870, dưới sự phụ trách của tỉnh trưởng tỉnh Seine, nam tước Georges Eugène Haussmann.

Xin được nói thêm một chút về Nam tước Georges - Eugene Haussmann, vốn nổi tiếng là nhà quản lý đô thị lỗi lạc của nước Pháp. Các thành phố ông từng làm quản lý như Bordeaux đều được ghi dấu bằng những công trình kiến trúc tuyệt vời có giá trị đến tận ngày nay, điển hình là khu quảng trường Bourses ở trung tâm Bordeaux được Unesco xếp hạng di sản thế giới. Nhờ tài năng và uy tín đó mà ông được Hoàng đế Louis Napoleon, tức Napoleon đệ tam, bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh Seine (trong đó có Paris) vào tháng 6 năm 1853.

Napoleon đệ tam đã giao trọng trách quy hoạch lại Paris cho Haussmann, đồng thời cho phép vị tổng công trình sư này được toàn quyền hành động với các khoản tài trợ rộng rãi đến từ chính phủ và các nhà băng.

Dự án của Haussmann bao trùm lên tất cả các khía cạnh về quy hoạch đô thị của Paris như kiến trúc đô thị, đường phố, không gian xanh, hệ thống dẫn và thoát nước. Dự án này được thực hiện ở cả vùng trung tâm Paris lẫn các khu vực ngoại ô.

Tuy gặp phải một số chỉ trích vào thời gian thực hiện nhưng cùng với thời gian, dự án quy hoạch của Haussmann đã cho thấy hiệu quả lớn khi biến thành phố Paris từ một đô thị cổ, đường phố chật hẹp, trở thành một đô thị hiện đại với các đại lộ lớn và những quảng trường thoáng đãng. Không chỉ làm nên bộ mặt mới của Paris ngày nay, những cải tạo của Haussmann còn là một kho báu cho các kiến trúc sư, các nhà quy hoạch đô thị và sử gia nghiên cứu và học hỏi.

Napoleon đệ tam và Haussmann đã cùng thảo ra một kế hoạch lớn nhằm cải biến Paris theo nguyên tắc: xây dựng những đại lộ có cây xanh và các khối nhà ở, công thự dọc hai bên đường; những đại lộ thẳng tắp này tỏa ra từ trung tâm và những đường phố cũng được tạo ra để nối liền các quận nội đô, từ đó giải quyết vấn đề giao thông trong thành phố.

Haussmann đã thực sự chuyển trung tâm Paris về phía Tây Bắc, từ đó xây những đại lộ rộng lớn, thẳng tắp và kiên quyết xóa bỏ mọi chướng ngại nằm trên những con đường đã được duyệt theo kế hoạch. Ông đã phá hủy hàng nghìn khu nhà lụp xụp và cũ kỹ (trong đó có cả ngôi nhà ông đã sống thời thơ ấu) và điều hàng vạn dân cư ra khỏi trung tâm thành phố để xây các đại lộ, công viên, nhà thờ, nhà hát, quảng trường rộng lớn … Chính nhờ có nhãn quan và tinh thần quyết liệt ấy mà ngày nay, Paris mới ngẩng cao đầu kiêu hãnh về những công trình kỳ diệu như Quảng trường Concorde, Quảng trường Trocadero và Đại lộ Champs Elysée

Một thành tựu to lớn khác của Haussmann là đã xây dựng được hệ thống cống rãnh thoát nước hiện đại nhất lúc bấy giờ, tạo ra bầu không khí trong lành, xóa bỏ được những bãi sình lầy gây dịch tả và những ngõ hẻm chật cứng người của Paris thời đó.

Trong khoảng 15 năm (1853-1868), Haussmann đã gần như hoàn tất các kế hoạch đầy tham vọng của mình: biến Paris từ một đô thành trung cổ, xấu xí và bẩn thỉu thành một thủ đô hiện đại, lộng lẫy, với những đại lộ thẳng tắp chạy xuyên qua thành phố. Dọc theo những đại lộ ấy mọc lên những nhà hát, nhà thờ mới, nhà ở cao tầng cùng rất nhiều công viên tươi đẹp. Hệ thống cấp thoát nước và khí đốt cũng được xây dựng và hiện đại hóa.

Để có được kỳ công về mặt quy hoạch và kiến trúc đó, không thể không nhắc đến vai trò trọng yếu của hệ thống quy chuẩn về kiến trúc đô thị mà những người khởi xướng dự án đặt ra. Tuy bị chỉ trích mạnh mẽ vào thời đó nhưng giá trị và tầm quan trọng của hệ thống quy chuẩn này là điều mà ngày nay ai cũng phải thừa nhận. Chẳng hạn, Sắc lệnh ngày 26 tháng 3 năm 1852 đã đưa ra các công cụ luật pháp giúp xúc tiến dự án cải tạo của Haussmann, với những nội dung căn bản như:

· Quyền trưng dụng "vì mục đích sử dụng công", theo đó chính quyền được phép trưng dụng các toà nhà nằm dọc những con đường được dự kiến xây dựng. Quyền này đã cho phép Haussmann phá sạch một phần đáng kể Île de la Cité để xây dựng lại, đồng thời bắt buộc chủ của những ngôi nhà này phải tu sửa mặt tiền ngôi nhà của họ theo kì hạn 10 năm một lần.

· Quy định về độ cao chuẩn cho các con đường, quy định về thiết kế nhà, về chỗ nối giữa hệ thống đường ống nước thải.

Tiếp đó là quy định về đô thị hóa năm 1859 cho phép mặt tiền các tòa nhà chỉ được cao tối đa 20 m trong những con phố rộng 20 m của Haussmann đang xây dựng (trước đó chiều cao tối đa là 17,55 m). Các mái nhà phải được làm nghiêng một góc 45 độ. Mặt tiền các đơn vị nhà nằm trên cùng một con phố cũng phải tuân thủ theo cùng một kích thước.

Chính tài năng quy hoạch kiến trúc lỗi lạc cùng với tầm nhìn vượt thời đại của những con người như Haussmann đã làm nên một Paris hoành tráng nhưng không kém phần diễm lệ ngày nay. Xa xa nhìn từ tầng 3 của tháp Eiffel là một quảng trường lớn bao quanh Khải hoàn môn, mang tên Quảng trường Ngôi sao, từ đó tỏa ra các đại lộ tráng lệ rộng lớn như những cánh lung linh của một ngôi sao, biến Paris trở thành một trong những kinh thành đẹp và lãng mạn nhất địa cầu. Một trong những đại lộ tuyệt đẹp ấy mang tên Haussmann, người có công lớn trong việc xây dựng nên kinh đô ánh sáng. Lịch sử sẽ còn nhiều biến động, những con đường rồi cũng có thể thay tên, nhưng công lao của Haussmann với Paris thì sẽ còn lưu giữ mãi trong trái tim của hàng triệu triệu người yêu mến thành phố này.

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2008

ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ

ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ

Расул Гамзатов

Исчезли солнечные дни,

И птицы улетели,

И вот одни проводим мы

Неделю за неделей.

Вдвоём с тобой, вдвоём с тобой

Остались ты да я.

Любимая, любимая,

Бесценная моя!

На косы вновь твои смотрю,

Не налюбуюсь за день.

Птиц улетевших белый пух

Пристал к отдельным прядям.

Пусть у меня на волосах

Лежит, не тая, снег...

Но ты, моя бесценная,

Как прежде, лучше всех.

Все краски вешние неся,

Вернутся снова птицы,

Но цвет волос, но цвет волос

С весной не возвратится.

И солнцу улыбнёмся мы,

Печали не тая.

Любимая, любимая,

Бесценная моя!

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2008

Noel trên tàu

C'est la fin de l'hiver, le début du printemps...
Chiều 24.12 gare Lyon Part Dieu chật kín người hối hả cho kịp những chuyến tàu cuối cùng mong về nhà sớm gặp mặt gia đình truớc lúc ngày mới bắt đầu.
Khác hẳn những chuyến đi thường ngày, hành khách chiều nay ai cũng nặng trĩu những valise và túi xách, không khí nhà ga lúc này khiến người ta nhớ đến cảnh sân ga những ngày cuối năm ở Việt Nam, cái thời của chàng sinh viên trẻ tuổi mang trong mình lắm tin yêu và ước mơ.
Cũng không khí lạnh buốt của những ngày cuối năm, của thời khác mùa đông chưa qua hẳn mà xuân thì cũng như mới e ấp nơi đầu ngõ, cũng là những sân ga chật ních nguời với những nụ cuồi rạng rỡ trên khuôn mặt vì sắp được đoàn tụ gia đình và người thân. Tất nhiên là không thể có những cành đào cành mai trên những chuyến tàu tốc hành vào ngày này thay vào đó là hình ảnh những cái ôm hôn siết chặt chào tạm biệt của ngừoi ra đi và người ở lại.
Chợt nhớ mùi hương trầm ngày tết một cách da diết, cái mùi hương ấm áp mà từ 4 năm nay chỉ còn lưu giữ nơi tâm tưởng- mùi của ngày Tết, của mùa xuân và niêm vui đoàn tụ trong tình gia đình và bè bạn.
Bước vào quán cafe nhỏ trong nhà gare Lyon làm 1 cốc cafe cho tỉnh táo để ngắm nhìn đoàn người ngược xuôi và chờ tàu về Montpellier đến nhà người bạn cũ đón thêm một Noel xa nhà.


Bạn thân yêu ơi,
Đêm Noel cũng xa nhà bạn làm gì, có chợt nhớ đến mình chút nào không?
Từ lâu lắm tớ không còn là người mơ mộng với những lãng mạn nơi trái tim nhưng giờ phút này đây ngồi cuộn tròn ấm áp trên một chuyến TGV và viết những dòng này lên cuốn sổ tay cũ kỹ, tớ chợt nhớ đến bạn rất nhiều và mộng mơ ước rằng chúng mình chỉ cách nhau chỉ vài giờ đi tàu, để mình có thể đến bên bạn trong đêm Noel lạnh giá, thứ lạnh lẽo không chỉ bởi đất trời mà nơi thẳm sâu nhất của trái tim.

Tàu sắp tới Nimes, thành phố cách không xa Montpellier,qua cửa sổ con tàu chạy với vận tốc trên 200km/h tớ như chợt nhìn thấy khuôn mặt của bạn, và trên khuôn mặt ấy tới tìm thấy được hình bóng và hơi ấm từ quê hương xa xôi.

Nimes, 17h 30 ngày 24.12.2008