Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015
Triết học pháp luật trong mối tương quan với lý luận chung về pháp luật
Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015
Nhà nước pháp quyền: nhận thức của cộng đồng quốc tế





NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012
néant
Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011
Như sự dịu dàng của em...
Jun là một người thích kể chuyện cười, anh có thể kể vô vàn thứ chuyện cười trào phúng Đông Tây kim cổ, kể cả thứ trào lộng theo phong cách của tờ "Con vịt buộc" (canard enchainé)
Là người có vẻ ồn ào nhưng Jun lại thích chơi với những cô gái ít nói và có nét gì đó buồn bã.
Anh có những sở thích xem ra là kỳ quặc với một người Việt điển hình: anh thích làm mọi thứ một mình: Đọc sách, xem phim, đi du lịch, thể dục thể thao, đi dạo... Chỉ có một điểm bình thường là anh không thích ăn một mình. Anh không thích những chốn ồn ào ầm ĩ: mỗi lần anh theo bọn bạn đi bar về là anh sẽ ốm ít nhất một ngày, không phải vì uống nhiều mà vì anh dị ứng với thứ âm thanh chát chúa trong các quán bar sinh viên.
Quand j'étais avec elle, en se promenant ensemble on se bavardait de n'importe quoi. En fait, j'ai parlé beaucoup et elle était en silence la plupart de temps et se contentait de me regarder.
Elle me prêtait toujours une oreille attentive et m'affirmait:
"Je suis sûre que tu deviendras quelqu’un de magnifique, que tu auras un brillant avenir. Il y a quelque chose de si beau en toi". Elle était sincère. Et c'était la première fille à me faire un compliment de ce genre.
Enfin, j'aurai bientôt 30 ans sans devenir une personne spéciale, un vagabond sans l'avenir. J'ai fait mal des gens et en ce faisant je me fait mal aussi.
Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011
Đêm...
Cuộc sống buồn tẻ, cô đơn nhưng dường như nó trở thành một phần máu thịt của mình. Bao giờ cho hết những ngày nhạt nhẽo này đây?
Mình chỉ thích uống rượu một mình, đi dạo một mình, đi ăn một mình và thậm chí đi xem phim cũng chủ yếu một mình...Một so' người bảo mình dở hơi lập dị, ngoài kia cuộc sống với bao nhiệt tình hăm hở đang chờ đón hãy tận hưởng đi chứ.
Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011
petits mots...
ça fait si longtemps je n'écris aucun mot, alors qu'il y a plein de chose qui s'emprisonne au fond moi.
Je me sens vide!
Y'a pas d'amour sans patiente
Histoire sans y croire
D'un amour sans le vouloir
Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011
Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010
Nụ cười
Hãy nhớ bức tranh ấy, khi bạn xem đến cuối cùng, con tim đã tĩnh lặng, đã ngừng đập.
Tôi đã hiểu điều J muốn nói với tôi: Từng câu từng chữ đều trong đó
Khi đọc, khóc từ đầu đến cuối. Cuối cùng phát hiện ra nước mắt đã được ánh nắng vàng cam mang đi hết...
Hãy mang tôi đi, đi thật xa. Một ngày khi tôi thấy thiên đường, tôi sẽ nói, sau năm 2010, mỗi ngày qua đi tôi đều chúc phúc cho vài người, vài người lương thiện, những người hiểu ý nghĩa của tình yêu, tha thứ cho mọi thứ, bao dung với mọi thứ,
chỉ có điều trước đây không nên làm tổn thương anh...
Món quà anh tặng cho tôi, tôi lưu giữ tới tận những khoảnh khắc cuối của cuộc đời, nhưng anh không hề biết ý nghĩa của nó. Nhưng trong những khi bất hạnh và đau khổ, món quà ấy làm tôi hồi sinh, giải thoát cho tôi. Chờ đợi, chỉ vì một bức thư trả lời
Tôi rất rất cảm động...
F.
Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010
Goodbye by Air Supply
And I know how hard you try
You deserve to have much more
I can feel your heart and I simpathize
And I'll never criticize
All you've ever meant to my life
I don't want to let you down
I don't want to lead you on
i don't want to hold you back
From where you might belong
You would never ask me why
My heart is so disguised
I just can't live a lie anymore
I would rather hurt myself
Than to ever make you cry
There's nothing left to say but goodbye
You deserve the chance at the kind of love
I'm not sure i'm worthy of
Losing you is painful to me
I don't want to let you down
I don't want to lead you on
i don't want to hold you back
From where you might belong
You would never ask me why
My heart is so disguised
I just can't live a lie anymore
I would rather hurt myself
Than to ever make you cry
There's nothing left to say but goodbye
You would never ask me why
My heart is so disguised
I just can't live a lie anymore
I would rather hurt myself
Than to ever make you cry
There's nothing left to try
Though it's gonna hurt us both
There's no other way than to say goodbye
Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009
Yuki no Hana -Phiêu tuyết- Tuyết bay
Yuki No Hana là một trong những bài hát thành công nhất của cô, được hát lại bởi ca sĩ Đại Hàn Hyo Shin Park làm nhạc nền cho phim Minhada Saranghad (Sorry, I Love You). Được dân Nhật lùn rất thích và hay chọn khi đi hát Karaoke.
Tải ở đây :
http://www.4shared.com/get/114627155/c6ea72e7/Yuki_no_Hana.html
nobita kage wo hodou ni narabe
yuuyami no naka wo kimi to aruiteru
te wo tsunaide itsumademo zutto
soba ni ireta nara nakechau kurai
kaze ga tsumetaku natte fuyu no nioi ga shita
sorosoro kono machi ni kimi to chikadzukeru kisetsu ga kuru
kotoshi, saisho no yuki no hana wo
futari yorisotte
nagamete iru kono toki ni
shiawase ga afuredasu
amae toka yowasa ja nai
tada, kimi wo ai shiteru kokoro kara sou omotta
kimi ga iru to donna koto demo
norikireru you na kimochi ni natteru
konna hibi ga itsumademo kitto
tsudzuiteku koto wo inotte iru yo
kaze ga mado wo yurashita yoru wa yuriokoshite
donna kanashii koto mo
boku ga egao e to kaete ageru
maiochite kita yuki no hana ga
mado no soto zutto
furiyamu koto wo shirazu ni
bokura no machi wo someru
dareka no tame ni nanika wo shitai to omoeru no ga
ai to iu koto wo shitta
moshi, kimi wo shinatta to shita nara
hoshi ni natte kimi wo terasu darou
egao mo namida ni nureteru yoru mo
itsumo itsu demo soba ni iru yo
kotoshi, saisho no yuki no hana wo
futari yorisotte
nagamete iru kono toki ni
shiawase ga afuredasu
amae toka yowasa ja nai tada, kimi to zutto
kono mama issho ni itai sunao ni sou omoeru
kono machi ni furitsumotteku masshiro na yuki no hana
futari no mune ni sotto omoide wo egaku yo
kore kara mo kimi to zutto...
Một vùng trời sầu muộn
Tuyết đang bay lả tả
Dòng suối nóng Izu này
Chính là những mong nhớ cô đơn của em
Một chiếc lá chầm chậm rơi
Chính là giống như kết cục của anh và em
Dòng suối nóng Izu này
Trước đây tràn đầy sự ấm áp
Bàn tay anh trước đây ôm vai em
thì thầm rằng sẽ yêu em mãi mãi
Những bông hoa tuyết giống như pháo hoa bắn tung
Tự do bay lả tả trong trời đất
Một cách thỏa sức trong một sát na
Sao hiện tại chỉ còn có gió thổi làm rối tóc em?
Xé ra những vết sẹo trong kí ức của em
Nhượng vãng sự tượng vụ khí mạn mạn địa chưng phát – khiến những chuyện cũ như sương mù chầm chậm dâng lên
Khiến em hiểu vì sao mình kêu lên mà không được
Vì sao những giọt lệ của em có thể rơi xuống không ngừng?
Hình ảnh anh hôn lên má em hồi trước lướt qua (suy nghĩ của em)
Toàn bộ những chuyện đúng sai trong khoảnh khắc sụp đổ
Vốn dĩ anh đã lấy đi 3 mùa ấm áp thu xuân hạ trong cuộc đời em
Ngay cả những gì (em) đạt được trong quá khứ cũng chỉ lơ lửng trong trong mộng
Vốn dĩ những điều em tìm kiếm lại là nỗi bận tâm khó dứt của chính em
Dòng suối nóng Izu này là sự trừng phạt của trời
Nếu biết trước kết cục liệu chúng ta vẫn có thể yêu nhau không?
Em ko đoán được câu trả lời của anh
Lời hẹn thề giữa băng tuyết là chân tình sao?
Tại sao lúc này mọi thứ vẫn không lưu lại?
Giờ chỉ có gió thổi làm rối tóc em
Tuyết chôn vùi những vết sẹo của kí ức
Những chuyện cũ tựa như sương mù chầm chậm dâng lên
Đau đến tê tái thì có lẽ mới có thể thích nghi
Và có thể khiến những giọt lệ của em không ngừng tẩy sạch
Tẩy sạch đôi má mà anh từng hôn lên
Em đưa bàn tay ra như muốn băng tuyết xuất hiện
Dường như trong khoảnh khắc đó hoa tuyết rơi xuống
Ghi lại câu chuyện tình giữa anh và em
Une ombre d'homme recouvre la chaussée
Tu marches dans le crépuscule
Toujours tenant ma main
Si je suis à tes côtés, il m'est impossible de pleurer
Les vents deviennent froids
Et je peux sentir l'hiver
Progressivement, dans cette ville
Les saisons changeront autant que tu les approcheras
Cette année la première fleur de neige fleurit
Comme nous l'avons dessiné
Comme je regarde sur ce temps
La joie qui m'envahit
Si nous dépendons l'un de l'autre, nous ne sommes pas faibles
Je t'aime simplement
Ces pensées sont sincères en mon coeur
Qu'importe ce qui arrive, du moment que je suis avec toi
J'ai le sentiment que rien ne peut m'arriver
Je sais que nous pouvons avoir cette vie sage pour toujours
Alors je prie pour que cela continue ainsi
Le vent secoue la fenêtre
Et la nuit je me réveille frissonnante
Je prendrai le risque sans aucune peine
En recouvrant mon visage d'un sourire
Les fleurs de neige ne virevoltent plus
Devant la fenêtre
Bien que je ne sâche pas pourquoi elles se sont arrêtées de tomber
Nous colorerons cette ville
Nous penserons alors
"pour qui faisons-nous ça?"
Mais nous savons que c'est parce que nous connaissons l'amour
Si tu te perds
Je deviendrai une étoile, et j'éclairerai ton chemin
La nuit, quand tu souris, ou t'innondes de larmes
Je serai à tes côtés, encore et toujours
Cette année la première fleur de neige fleurit
Comme nous l'avons dessiné
Comme je regarde sur ce temps
La joie qui m'envahit
Si nous dépendons l'un de l'autre, nous ne sommes pas faibles
C'est simple, je veux juste être
Avec toi, ainsi, pour toujours
Alors je pourrais ressentir ta douceur
Pûres et blanches fleurs de neige
Saupoudrant la ville
Dans nos coeurs, nous dessinons rapidement nos sentiments
Je serai avec toi, pour toujours, comme à cet instant...
Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009
Cloche à vent
Nhà của mấy thằng con trai nên đồ đạc bừa bộn, lần nào đến em cũng năn nỉ dọn nhà nhưng mà rồi thì anh vẫn không đồng ý. Em chê nhà anh chẳng có đồ đạc gì ngoài mấy cái máy tính của anh và bạn, em bảo nên trồng một ít cây hay hoa cho cuộc sống thêm phần sinh động, anh hồn nhiên bảo quanh nha anh là cả một rừng cây và hoa lá rồi còn gì, thêm nữa thi thoảng được gặp em với nụ cười như hoa mùa xuân nên anh nghĩ chằng cần thêm hoa lá. Một lầni em mang đến cho anh một chiếc chuông gió, bảo là mua được hồi học ở Đông Kinh và bảo anh sống trên đồi nhiều gió sẽ làm chiếc chuông kêu luôn luôn và mỗi khi chuông kêu anh có thể nhớ tới em một chút.
Chuông gió mang đến hơi ấm và âm vang của mùa xuân, hình như có lần em bảo thế. Mà rồi thì mùa xuân vẫn cứ về biết bao lần mà không cần đợi tiếng chuông gió treo nơi cửa. Mùa xuân về và em về đâu anh không còn biết nữa.
Anh ngồi trong căn phòng đơn sơ, nhìn chiếc chuông gió mà nhớ đến em.
Rồi thì đến anh cũng rời khỏi căn phòng đó. Đồ đạc được chuyển đi hết trừ chiếc chuông gió anh quyết định để lại. Gắn ký ức về em với chiếc chuông gió ở một căn phòng nhỏ xa lạ dễ hơn trong trái tim vốn hay nhạy cảm và lắm hồi ức.
Mấy năm kể từ ngày chuyển đi anh không quay lại ngôi nhà cũ có chiếc chuông gió của em. Mà chắc người thuê nhà đến sau đã gỡ nó ra từ lâu rồi, có thể lắm, cũng như anh vẫn thi thoảng nhớ em, dù ít thôi.
Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009
You can't say
You can smile and even pretend
And you can turn and walk away so easily
But you can't say, you don't love me anymore.
You can dream of what might have been
You can cry for what won't pass again
And you can say there's every reason you should leave
But you can't say, you don't love me anymore.
You can say I'm right you're wrong
You can make your plans to find somebody else
But I can't believe you can carry on
We know what should be said
But you can't find the words instead.
You say, old things must end
You can smile and even pretend
And you can turn and say you're leaving me for good
But you can't say, you don't love me anymore.
And you can turn and say you're leaving me for good
But you can't say, you don't love me
First just say, you don't love me anymore...
Em cứ ước ao những điều có thể đãtrở thành sự thật
Nước mắt cứ chảy va chẳng thể nào quay ngược thời gian.
Có thể thanh minh và vờ ngoảnh mặt quay lưng.
Nhưng đừng nói em ko còn yêu anh nữa
EM đúng tôi sai, cũng được thôi, tôi không bào chữa
Em có thể quay đi và kiếm một anh chàng
Nhưng tôii tin rằng tâm hồn em sẽ mãi lang thang
....
Em có thể nói những tháng năm xưa đã xa xôi.
Em cứ mỉm cười và vờ như không biết.
Em cứ quay lưng và nói lời tiễn biệt.
Nhẹ nhàng như chiếc lá bay
Nhẹ nhàng như chiếc lá bay thôi.
Nhưng không thể nói em không còn yêu anh nữa
Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009
Je n’ose pas répondre cette question si difficile. J’ai dit : C’est une question sans réponse.
C’est vrai que je pense souvent à toi. C’est vrai que je garde toujours des souvenirs de ta part. Même si tu les as oublié, peut-être.
Je ne te dis pas que je t’aime, car cela te donnera des soucis. En fait, l’amour ou l’amitié, ce n’est qu’une appellation pour une relation humaine. Alors que le plus important c’est si on donne à cette relation une telle ou telle signification.
Je ne t’oublie jamais, car tu mérite mon affectation. Je n’ai rien à ta donner sauf ma compassion.
Tu t’assure qu’on est ami éternel jusqu’au dernier moment de ta vie et qu’il n’y a que la mort qui pourra nous séparer notre amitié.
Une fois, je te dis que amitié éternelle est plus précieuse qu’un amour. Parce que l’amour pourra être séparé par le divorce. Par contre, l’amitié éternelle existe pour jamais.
Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2009
Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009
Tinh thàn cua nguoi TT
Tinh thần của người Triều Tiên.
Bắc Hàn là một quốc gia bí ẩn, và hẳn nhiều trong đầu của đa số chúng ta là hình ảnh một đất nước bị cấm vận và khó khăn đủ bề, không khác mấy VN thời kỳ trước Đổi mới.
Ngoài những công trình xây dựng to lớn tại Bình Nhưỡng được quy hoạch một cách bài bản và quy cũ thì người ta không biết gì nhiều về đất nước này. Cũng dễ hiểu, hàng năm chỉ có khoảng vài nghìn khách du lịch phương Tây được cấp Visa du lịch nước này.
Sau 44 tham dự vòng chung kết wc, bóng đá BH trở lại với đấu trường thế giới bằng suốt tham dự vòng chung kết năm 2010 tổ chức tại Nam Phi.
Những ai ham hiểu lịch sử bóng đá thế giới đều biết tại vòng chung kết năm 1966 tổ chức tại Anh, đội tuyển TT đã làm nên kỳ tích khi đánh bại Italia và sau đó dẫn trước Bồ Đào Nha với tỉ số 3.0 trước khi bị gỡ lại 5.3. Những người hùng của đội BTT năm ấy với ký ức ngọt ngào được gợi lại trong bộ phim tài liệu của Anh mang tên « the match of life ».
Việc đội bóng Bắc Á này dành được vé tham dự wc 2010 khiến nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi nhiều năm nay BTT chỉ được biết đến với đội tuyển bóng đã nữ ở đẳng cấp thế giới.
Thành công này cũng khiến những người làm bóng đá của các quốc gia khác phải nhìn lại cách làm bóng đá của mình, và hơn hết là cách khơi dậy quyết tâm và lòng tự hào của mỗi cầu thủ khi khoác trên mình bộ đồ tuyển thủ quốc gia.
Tờ Tin tức Quảng Châu của TQ đặt câu hỏi ngay trang nhất « Tại sao chúng ta thất bại trong khi CHDCND TT thành công, dù có cơ sở vật chất và nguồn tài chính dồi dào nhưng chúng ta lại thua kém người BTT ở phương diện ý chí, lòng dũng cảm và sự quyết tâm ».
Báo chí Nam Hàn cũng hồ hởi với việc lần đầu tiên trong lịch sử có 2 đội Triều Tiên cùng tham dự wc. Tớ Jooong Ang nhật báo ca ngợi huấn luyện viên Kim Jong Hun đã đưa đội tuyển của ông vào vòng chung kết « Đội tuyển xếp hang 106 thế giới, đã cho thấy phẩm chất của họ khi đối đầu với A rap xê út . Nhắc lại rằng BTT ghi được 7 bàn và chỉ để lọt lưới 8 bàn trong 8 trận ».
Để đến được vòng chung kết 2010 BTT đã gặp Hàn Quốc tới 4 lần, trong đó 2 lần trên sân Soeul và 2 lần trên sân trung lập Thượng Hải (TT từ chối tiếp đội HQ trên sân nhà). Và chỉ để thua đúng 1 trận. Trong trận này BTT đã ghi bàn trước sau khi số 12 đánh đầu qua vạch vôi rõ ràng nhưng trọng tài không nhìn thấy.
Trong đội hình của BTT có nhiều cầu thủ thi đấu ở nước ngoài, bao gồm các cầu thủ đang thi đấu tại giải vô địch Nhật Bản, Nga và cả Hàn Quốc. Trong đó tiền đạo số 12 Jong tae se đang chơi tại giải vô địch Nhật J Ligue. Anh được mệnh danh là « Ronaldo Bắc TT » với sức mạnh thể lực vượt trội và kỹ thuật không chê vào đâu được.
Các cầu thủ đang chơi tại Nhật bản đều là những người sinh ra và trưởng thành tại Nhật, thuộc thế hệ thứ 3, 4 có quyền chọn quốc tịch Nhật hay Hàn Quốc nhưng vẫn chọn đá cho đội BH.
Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2009
Thái độ của người Trung Quốc đối với quá khứ
Pierre Ryckmans, tác giả chuyên viết về văn hóa và chính trị Trung Quốc với bút danh Simon Leys, giới thiệu bài viết này lần đầu tiên với cái tên “bài diễn văn Morrison số 47” vào ngày 16 tháng 6 năm 1986. Phiên bản này đã được xuất bản trước đó trên “Báo lịch sử miền viễn Đông” (sau là “Lịch sử Đông Á”) vào năm 1989. Chúng tôi tái bản bài viết ở đây để xem xét di sản “Bắc Kinh, thành phố vô hình”, cũng như là một sự bổ sung vào bộ tư liệu về đề tài Hán học hiện đại.
(Lời người biên tập)
Le Tibre seul, qui vers la mer s'enfuit,
Reste de Rome. O mondaine inconstance!
Ce qui est ferme, est par le temps detruit,
Et ce qui fuit, au temps fait résistance.
Trung Hoa là nền văn mình cổ xưa nhất còn tồn tại trên trái đất. Và sự tiếp nối độc nhất như vậy hẳn nhiên bao hàm mối quan hệ phức tạp của một dân tộc với quá khứ của họ. Thực chất sâu xa của sự bền vững đáng kinh ngạc về văn hóa này dường như là một nghịch lý: đó là việc nuôi dưỡng những giá trị đạo đức và tâm linh thuộc về con người cổ đại có vẻ thường được gắn với sự thờ ơ hay bàng quan đối với những di sản vật chất của quá khứ (thậm chí là ngay cả trong thời kì những tín ngưỡng lâu đời bị đả phá một cách mạnh mẽ nhất). (Dù bản thân sự tiếp nối về tinh thần bất chấp hay nhờ có sự tàn phá một phần những tư liệu vật chất của truyền thống là một vấn đề khác, nó cũng sẽ được đề cập một cách sơ lược sau đây)???
Bài viết này nhằm khám phá sơ bộ hiện tượng gìn giữ thế giới tinh thần đồng thời với việc tàn phá các yếu tố vật chất đã được quan sát trong suốt tiến trình lịch sử nền văn hóa Trung Hoa. Chủ đề thì vô cùng, vì thế ở đây tôi sẽ chỉ vạch ra một vài định hướng và đề tài cho những nghiên cứu sâu hơn. Ở mức độ này, tôi chỉ đơn thuần định hình vấn đề chứ không nhằm hướng tới việc đưa ra một giải pháp cụ thể nào.
Sự hiện hữu của giá trị tinh thần và thiếu vắng các yếu tố vật chất gắn với quá khứ ở Trung Quốc.
Trong cuốn tự truyện của mình, Carl-Gustav Jung đã diễn giải lý do vì sao ở cái độ tuổi già cả như vậy ông lại mong mỏi được tới thành Rome, nơi ông chưa bao giờ đặt chân tới. Ông cứ trù trừ hết lần này tới lần khác do e sợ mình sẽ không chịu đựng nổi niềm xúc động khi được diện kiến cái thực thể sống của nền văn hóa cổ đại Âu Châu. Cuối cùng, ông đã bị ngất đi và bất tỉnh trong phút chốc khi bước vào 1 đại lý du lịch ở Zurich để mua vé. Sau trải nghiệm này, ông đã có 1 quyết định sáng suốt là từ bỏ kế hoạch đó và ông không bao giờ được tận mắt chiêm ngưỡng thành Rome nữa. Hầu hết các nhà Hán học đều không được phú cho một độ nhạy bắt sóng như ông Zung, và cho dù có tinh nhạy được như thế đi chăng nữa thì cũng khó cho những người nghiên cứu về Trung Quốc cổ điển có thể tiếp cận Trung Quốc hiện đại ngày nay mà không quá đỗi xúc động hay xâm chiếm bởi tinh hoa lạ thường dường như tỏa ra từ khắp nơi ở một vùng đất quá đỗi gắn bó với lịch sử này.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự hiện diện của quá khứ ở đất nước Trung Quốc; đôi khi là ở những địa điêm không ngờ nhất, nơi có số lượng khách viếng thăm dày đặc: những tấm áp phích ở rạp chiếu phim, quảng cáo máy giặt, tivi hay kem đánh răng được bày dọc những con phố được viết bằng thứ ngôn ngữ hầu như không biến đổi gần 2 ngàn năm nay. Trong nhà trẻ, những đứa bé còn đang tập đi, miệng hát ê a bài thơ Tang ra đời khoảng 200 năm trước. Ở các nhà ga, những nhân viên tư vấn lịch trình tàu chạy đơn thuần cũng có thể là một trải nghiệm làm sững sờ bất cứ một nhà sử gia văn hóa nào: trí tưởng tượng bị nhào trộn bởi danh sách dài những thành phố vốn gắn với những thời kỳ huy hoàng của các triều đại trong quá khứ.Hay một lần nữa xuất hiện trong bối cảnh đặc trưng gần đây, các nhà khảo cổ học đã khám phá ra trong 1 ngôi mộ 2 ngàn năm tuồi, giữa những loại thực phẩm đã được chôn cùng người chết là một loại bánh nhân thịt (bánh bao) giống y như nó vẫn đang được bày bán ở các cửa hàng góc phố ngày nay. Và chúng ta có thể lấy vô số ví dụ tương tự như vậy.
Nhưng đồng thời, nghịch lý lại là cái quá khứ mà dường như thâm nhập và biểu thị với một sức sống đáng kinh ngạc như vậy, cũng vượt khỏi sự nhận biết về mặt vật chất của chúng ta một cách kì lạ. Vẫn cái đất nước Trung Hoa vốn giàu về lịch sử và các hồi ức này kì quặc thay lại thiếu vắng bóng dáng những công trình cổ đại. Sự vắng mặt các yếu tố vật chất liên quan tới quá khứ trong phong cảnh đất nước Trung Hoa có thể là yếu tố làm lúng túng những người thực dân (khai hóa) phương Tây, đặc biệt là nếu họ tiếp cận Trung Quốc với những tiêu chí và chuẩn mực được hình thành một cách tự nhiên trong môi trường Âu Châu. Tại Châu Âu, dù phải trải qua vô số cuộc chiến tranh và tàn phá, mỗi thời đại đều để lại một số lượng đáng kể những mốc giới hạn (ranh giới) các công trình kỉ niệm: những tàn tích của Hy Lạp và La Mã cổ đại, tất cả những thánh đường lớn thời trung cổ, các nhà thờ (giáo đường) và lâu đài của giai đoạn Phục Hưng, những công trình của kỉ nguyên Ba rôc; tất cả những cái này tạo nên một chuỗi các chứng tích kiến trúc liên tục góp phần duy trì, làm sống mãi những hồi ức của quá khứ ngay tại trung tâm những thành phố hiện đại của chúng ta. Ở Trung Quốc thì lại ngược lại, nếu trừ đi một lượng nhỏ những khúc đồng diễn nổi tiếng mà mức độ cổ xưa của chúng là tương đương thì điều gây ấn tượng với những du khách có học thức là sự thiếu vắng những công trình kỉ niệm của quá khứ. Hầu hết các thành phố Trung Quốc, bao gồm và đặc biệt là những thành phố vốn là thủ phủ cũ hoặc trung tâm văn hóa có uy tín trong lịch sử, ngày nay thể hiện những khía cạnh mà có thể ko chính xác là cái mới hay hiện đại (bởi vì nếu hiện đại hóa là cái đích mà TQ đang hướng đến thì vẫn còn một quãng đường dài trước khi nó có thể đạt tới) nhưng dường như lại thiếu vắng những đặc điểm truyền thống. Tóm lại, chúng có vẻ như là một sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa cuối thế kỉ 19. Vì thế, cái quá khứ mà vẫn tiếp tục tạo sức sống trong đời sống người TQ bằng những cách thức nổi bật, bất ngờ và hết sức tinh tế, dường như tồn tại trên mỗi con người hơn là gạch đá. Lịch sử TQ vừa thực sự thuộc về yếu tố tinh thần lại vừa vô hình về mặt vật chất.
Cần phải lưu tâm rằng, khi đề cập tới sự phá hủy các yếu tố vật chất gắn với quá khứ, tôi không có ý lại đề cập 1 lần nữa tới sự tàn phá rộng khắp và có tính hệ thống do cuộc “Cách mạng văn hóa” gây ra. Trong những năm cuối thời Mao, sự tàn phá này đúng là dẫn tới sa mạc văn hóa theo nghĩa đen của nó, ở vài thành phố, 95 cho tới 100% những di tích lịch sử và văn hóa đã biến mất vĩnh viễn. Tuy nhiên, lại phải nói rõ ngay rằng, nếu tại nhiều thành phố, các băng nhóm học sinh có thể cướp bóc, thiêu trụi và san bằng gần như toàn bộ các di tích cổ thì trong trường hợp cá biệt này, đó là do chẳng còn lại nhiều cho chúng tàn phá. Quả thực, có rất ít công trình còn tồn tại được sau cái thảm họa lịch sử ban đầu đó, và kết quả là những kẻ chuyên đi phá hoại các công trình văn hóa (do ác tâm hoặc ngu dốt) chả có mấy mục tiêu để mà bỏ sức. Trong cái bối cảnh này, việc nhìn nhận cuộc “Cách mạng văn hóa” như một sai lầm ngẫu nhiên có thể là mốt sơ suất. Nếu đặt lại nó vào một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thực ra nó dường như là biểu hiện gần nhất của cái hiện tượng đả phá tín ngưỡng nghiêm trọng cổ xưa mà đã tái diễn trong suốt các thời kì lịch sử. Không phải trở về với lịch sử xa xôi nào, cuộc nổi dậy Taiping vào giữa thế kỷ 19 đã tàn phá một cách trầm trọng hơn nhiếu so với cuộc “Cách mạng văn hóa”. Về sau, tôi sẽ còn trở lại với câu hỏi vể sự tàn phá có tính chu kỳ các di sản vật chất có liên quan tới quá khứ mà dường như đã trở thành đặc trưng của lịch sử đất nước Trung Hoa này.
Do đó, sự thiếu vắng gây bối rối những cảnh quan công trình lịch sử của Trung Quốc không thể đơn thuần nhìn nhận như là kết quả của những năm tháng hỗn loạn thời Mao Trạch Đông. Đặc trưng đó còn có tính chất lâu dài và sâu xa hơn nữa, và nó đã thực sự gây ấn tượng(chú ý) đối với những du khách Châu Âu vào những năm thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Riêng về mặt này, tôi cho rằng khó mà tìm được nhân chứng nào có tư cách và cởi mở hơn Victor Segalen (1878-1919), một nhà thơ đặc biệt, người vừa là nhà Hán học vừa là nhà khảo cổ học với nhiều thành tựu đáng kể. Ông đã ở Trung quốc vài năm vào thời điểm kết thúc của đế chế (giai đoạn kiểm soát) và tiến hành 2 cuộc hành trình khảo cổ dài vào những tỉnh vùng sâu xa hơn nữa của nội địa. Trong bài thơ tản văn “Aux Dix mille années” (1912), ông đã tổng kết lại một cách dễ nhớ cái nghịch lý mà tôi cho là nguyên nhân thái độ của người TQ đối với quá khứ của mình (Thực sự thì toàn bộ bài viết của tôi được khơi nguồn từ bài thơ này, và điều mà tôi đang cố làm ở đây chỉ là đưa ra 1 lời bình (nhận xét) cho nó).
Bài thờ của Segalen là một sự suy ngẫm về mối liên hệ giữa nền văn hóa Trung Hoa và thời gian. Mở đầu là sự gợi lên tương đối những nguyên tắc kiến trúc của các nền văn mình vĩ đại trong quá khứ và đối lập chúng với quan niêm của người Trung Quốc. Những quan điểm phi Trung Quốc (từ những quốc gia khác TQ), từ Ai Cập cổ đại cho tới phương Tây hiện đại về cơ bản là những nỗ lực chủ động,xông xáo nhằm thách thức và vượt qua sự tàn phá, bào mòn của thời gian. Họ có tham vọng kiến lập nên sự vĩnh cửu thông qua việc sử dụng những vật liệu bền chắc nhất có thể và những kỹ thuật mà đảm bảo được mức độ đàn hồi (linh hoạt?) tối đa. Nhưng dù có làm thế đi chăng nữa, những nhà kiến trúc (người thi công?) chỉ đang cố trì hoãn sự thất bại không thể tránh khỏi của mình mà thôi. Ngược lại, người Trung Quốc đã nhận thức được – như trong những lời thơ của Segalen – “nothing immobile can escape the hungry teeth of the ages” (ko một thực thể không hoạt động hay bất động? nào có thể thoát khỏi những chiếc răng háu đói của thời gian). Vì thế những kỹ sư xây dựng người TQ mà chịu khuất phục trước sự tấn công của thời gian làm chệch hướng của nó tốt hơn.
Những suy ngẫm của Segalen được hình thành từ những dữ liệu chính xác về mặt kỹ thuật: những công trình kiến trúc Trung Hoa thực sự được làm từ các vật liệu mỏng manh và dễ hỏng, chúng bao gồm cả 1 kiểu ”lỗi thời cố hữu”, chúng nhanh chóng bị hư hỏng và cần phải xây lại thường xuyên. Từ những quan sát thực tế này, ông rút ra một kết luận có tích chất triết học: người Trung Quốc đã thực sự chuyển đổi được vấn đề: sự vĩnh cửu không nên tồn tại ở các công trình mà nên sống trong những người xây dựng chúng.Trạng thái nguyên thủy ngắn ngủi nhất thời của công trình kiến trúc giống như một món tặng phẩm cho sự phàm ăn của thời gian, và vì cái giá phải trả cho những sự hi sinh như vậy, các nhà kiến tạo cần phải đảm bảo tính bất diệt của các thiết kết thuộc về yếu tố tinh thần.
Thứ Ba, 9 tháng 6, 2009
Sách với vở.
Công nhận nếu thế thật thì các bố ấy quá giàu đi. 1 quyển sách cho là nặng 1kg đi,1Kg là loại sách phải hơn 600trang chứ không ít. Thế thì vài tấn sách tức là mấy nghìn quyển sách. Theo thời giá hiện tại là mỗi quyển cũng mấy chục €. Vì loại sách văn học khá rẻ sau nhiều lần xuất bản nên tiền bản quyền giảm theo, chứ sách khoa học thì in số lượng ít nên bán đắt. Vạy 40€X vài nghìn quyển thì các cụ ấy phải mất gần trăm nghìn € mua sách.
Ngày nay với sự phổ cập của internet thì chẳng ai điên mang cả tấn sách về quê cả. Tiền phí gửi cũng chết tiền rồi. Bây giờ có thể đọc được rất nhiều sách trên mạng dưới dạng ebook. Ngoài sách ra còn vô số tạp chí bài báo. Tất nhiên không phải lúc nào cũng free nhưng nói chung là đọc hết đống free thì cũng ốm.
Đó là sách về tri thức phổ thông nói chung, chứ sách chuyên ngành khoa học thì trên mạng không có nhiều lắm. Vì chuyên ngành càng sâu thì càng ít người nghiên cứu và đọc, bởi thế nhu cầu là không nhiều nên chẳng mấy ai up lên mạng cả.
Đúng ra thì trên ebook của google có cực nhiều sách, kể cả chuyên ngành. Ví dụ như sách bằng tiếng Pháp thì 80% số sách mình cần tìm đều có thể kiếm ở google, trừ những quyển nào mới ra thì chưa có. Tuy nhiên đọc trên máy tính rất đau mắt, đặc biệt là bọn google không up toàn bộ mà thường chỉ môt phần, đôi lúc thiếu vài ba trang đang đọc tức như bò đá.
Ngoài google ra thì còn có nhiều trang web khác khá phong phú. Tuy vậy vẫn không thể nói là đầy đủ được, đặc biệt là các publication mới thường chưa kịp up. Mà khoa học thì luôn cần cập nhật, đặc biệt là về khoa học xã hội, chứ không cứ hùng hục nghiên cứu cả năm rồi mới ngã ngửa ra là cái mình làm đã có thằng làm cả chục năm trước.
Nói thêm là tình trạng khoa học của Vn rất phò phạch, nhưng phò phạch nhất là các ngành khoa học xã hội. Các giáo sư với chuyên gia rất là lười đọc sách, một phần là không chú tâm, thứ 2 là không thạo ngoại ngữ nào để có thể đọc tài liệu thoải mái, mà thạo ngoại ngữ thì làm giáo sư làm cóc gì cho nghèo, đi làm phiên dịch hay làm cho NGO mau kiếm tiền hơn. Bởi tình trạng này mới có chuyện là nhiều hội thảo các bác giáo sư cãi nhau chí chóe về những khái niệm thuộc loại sơ đẳng nhất của chuyên ngành.
Nói chung để viết báo và làm nghiên cứu bên lĩnh vực khoa học xh mà không rành một trong các ngoại ngữ phổ biến (ANh, Pháp, Trung, Tây Ban NHa, Nga, Đức và có thể cả Nhật nữa) thì nghiên cứu lịch sử Đảng là hợp nhất, vì kiến thức khoa học bằng tiếng Việt thực sự rất khiêm tốn mà nhiều khi không chính xác và cập nhật.
Không phải sách nào cũng tìm được bản online, thậm chí thư viện cũng khó tìm mặc dù hệ thống thư viện của Pháp phải nói là vĩ đại, sẽ kể về nó khi nào rỗi. Cho nên thấy quyên nào hay mình phải scan ngay. Nhưng scan lâu quá, nên bây giờ dùng máy ảnh chụp luôn rất nhanh tuy chất lượng ko tốt bằng scan. Nhưng dung lượng bé và nhanh. Một quyển sách 900 trang hôm trước thử chụp mất không đến 1h.
CHụp lại sau đỡ phải mượn thư viện khi cần tra cứu, thêm nữa sau về Vn làm gì có cơ hội mà kiếm sách, và tiếp là nếu ai cần tài liệu có thể chia sẽ. hihi
Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009
Lịch sử và chính trị
http://denis-collin.viabloga.com/
Đặc biệt ông này nghien cứu rất nhiều về chủ nghĩa Marx, nhưng món này mình không quan tâm và ngán tận cổ, chỉ đọc những gì ông ấy viết về lịch sử và chính trị thôi.
Đã đăng kí theo dõi blog của cụ, lúc nào rỗi sẽ đọc dần dần.
Nói chung viết sách như các "học giả" xôi thịt nhà mình thì mỗi tháng mình tập trung chắc viết được 1 quyển. he he. Sau này lấy vợ sẽ xin tiền vợ in sách mình viết, không ai đọc thì cũng giúp cho ma'y bà bán xôi đầu phố đỡ phải mua giấy.
"On peut dire que la science historique se construit d’abord par une patiente déconstruction de la mémoire. J’en donne quatre traits essentiels.
1. La mémoire est subjective. Elle s’inscrit toujours dans un vécu de conscient. La mémoire est ma mémoire. L’histoire vise l’objectivité. L’histoire n’est pas mon histoire, elle est posée comme existence extérieure à la conscience. La mémoire historique est toujours notre mémoire. Notre mémoire de l’histoire de France n’est pas la mémoire de l’histoire de France de nos voisins et réciproquement ! Au contraire, l’histoire implique un décentrement du regard. Ce qu’on appelle objectivité, qui est la possibilité de se changer de point de vue, de ne pas être soumis à un point de vue particulier.
2. La mémoire présuppose l’oubli comme son indispensable complément. Je ne peux me souvenir qu’en sélectionnant ce qui doit être oublié. La mémoire collective fonctionne, elle aussi, à l’oubli. On perçoit couramment l’oubli comme un pur négatif, un manque de mémoire. Mais l’oubli est comme le fond nécessaire à partir duquel peut émerger la mémoire. L’oubli est même parfois commandé, par exemple pour des raisons politiques, religieuses, etc. L’histoire (comme la psychanalyse !) vise à faire revenir l’oublié.
3. La mémoire s’inscrit dans un récit. La mémoire individuelle est ce par quoi l’individu constitue sa propre identité. Elle est entièrement pensée à partir du présent – la mémoire, c’est toujours le passé au présent. Il en va de même de la mémoire collective. Ce dont les communautés historiques gardent la trace, c’est qui constitue encore le présent. Ce qui disparaît de la mémoire collective, c’est ce qui n’a plus cours. Dans les deux cas, la mémoire est orientée dans un récit dont la fin est connue. Elle est donc nécessairement téléologique : la vérité des événements passés réside dans le présent. La science historique, dès qu’elle se veut véritablement scientifique, doit sortir du récit, précisément parce qu’elle doit sortir de la téléologie, de l’histoire orientée vers une fin idéale, c'est-à-dire, en réalité, de l’interprétation du passé en fonction du présent.
4. La mémoire ne se soucie que de l’enchaînement temporel des images – elle s’identifie à notre conscience intime du temps. Il en va de même avec la mémoire collective qui fonctionne par images (" les images d’Épinal !) L’histoire, au contraire, s’intéresse à la causalité. Les faits et les événements doivent apporter une intelligibilité de l’ensemble du processus historique.
Je sais bien que je dresse ici un portrait idéal de la science historique. Paul Ricoeur a longuement discuté des limites de la scientificité de l’histoire. Pour lui, en dépit des efforts de l’historiographie moderne, l’histoire ne peut s’émanciper du récit. La question de la causalité en histoire reste très largement en suspens. Nous savons bien que l’histoire ne se pense pas comme les sciences de la nature. Nous savons bien que les " lois " de l’histoire n’ont pas grand chose à voir avec les lois de la physique. Je suis même prêt à reprendre à mon compte la distinction de Dilthey entre sciences nomologiques et sciences herméneutiques et à placer l’histoire dans le camp de ces dernières. Mais cette séparation, si elle est fondée sur de bons arguments, n’émancipe pas pour autant l’histoire des exigences qui s’imposent aux sciences de la nature, même si " l’obligation de résultat " ne peut jamais être du même ordre.
Donc, la science historique ne peut que se placer dans une perspective de compréhension rationnelle et d’objectivité, cette perspective qui distingue radicalement le livre d’un historien d’un roman historique – sans que je veuille ici dévaloriser le roman historique comme genre littéraire. Certes l’histoire ne peut échapper au conflit des interprétations, mais la vérité scientifique reste son idéal régulateur.
Mémoire et histoire selon Pierre Nora
Cette opposition entre histoire et mémoire, Pierre Nora en fait le thème introducteur de ses " Lieux de mémoire ". Mais avec une forte connotation péjorative. Je voudrais en commenter quelques passages.
" Mémoire, histoire : loin d'être synonymes, nous prenons conscience que tout les oppose. La mémoire est la vie, toujours portée par des groupes vivants et à ce titre, elle est en évolution permanente, ouverte à la dialectique du souvenir et de l'amnésie, inconsciente de ses déformations successives, vulnérable à toutes les utilisations et manipulations, susceptible de longues latences et de soudaines revitalisations. L'histoire est la reconstruction toujours problématique et incomplète de ce qui n'est plus. La mémoire est un phénomène toujours actuel, un lien vécu au présent éternel ; l'histoire, une représentation du passé. Parce qu'elle est affective et magique, la mémoire ne s'accommode que des détails qui la confortent ; elle se nourrit de souvenirs flous, télescopants, globaux ou flottants, particuliers ou symboliques, sensible à tous les transferts, écrans, censure ou projections. L'histoire, parce que opération intellectuelle et laïcisante, appelle analyse et discours critique. La mémoire installe le souvenir dans le sacré, l'histoire l'en débusque, elle prosaïse toujours. La mémoire sourd d'un groupe qu'elle soude, ce qui revient à dire, comme Halbwachs l'a fait, qu'il y a. autant de mémoires que de groupes ; qu'elle est, par nature, multiple et démultipliée, collective, plurielle et individualisée. L'histoire, au contraire, appartient à tous et à personne, ce qui lui donne vocation à l'universel. La mémoire s'enracine dans le concret, dans l'espace, le geste, l'image et l'objet. L'histoire ne s'attache qu'aux continuités temporelles, aux évolutions et aux rapports des choses. La mémoire est un absolu et l'histoire ne connaît que le relatif. "
Jusqu’ici, je crois que l’opposition entre histoire et mémoire est correctement perçue. Mais la suite pose plus de problèmes.
